Cho thuê tài chính đối với phần mềm, dữ liệu và tài sản trí tuệ: Cơ hội vốn và bài toán định giá quyền tài sản

17 tháng 8, 2026Bài viết

Thông tư số 31/2026/TT-NHNN ngày 30/6/2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho thuê tài chính của công ty tài chính tổng hợp, công ty cho thuê tài chính (sau đây gọi là Thông tư 31/2026/TT-NHNN), có hiệu lực từ ngày 15/8/2026, xác định phần mềm, quyền khai thác, tài sản trí tuệ và dữ liệu thuộc nhóm quyền tài sản có thể được sử dụng làm tài sản cho thuê tài chính, bên cạnh máy móc, thiết bị, dụng cụ và phương tiện vận tải. Sự mở rộng này tạo thêm kênh tài trợ trung hạn, dài hạn cho tài sản số, nhưng cũng đặt ra những vấn đề mà mô hình cho thuê tài sản hữu hình ít gặp: quyền nào thực sự được chuyển giao, tài sản được định giá ra sao, bên cho thuê kiểm soát quyền trong thời hạn hợp đồng bằng cách nào và xử lý thế nào khi bên thuê vi phạm.

Cho thuê tài chính đối với phần mềm, dữ liệu và tài sản trí tuệ: Cơ hội vốn và bài toán định giá quyền tài sản

Thông tư số 31/2026/TT-NHNN ngày 30/6/2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về hoạt động cho thuê tài chính của công ty tài chính tổng hợp, công ty cho thuê tài chính (sau đây gọi là Thông tư 31/2026/TT-NHNN), có hiệu lực từ ngày 15/8/2026, xác định phần mềm, quyền khai thác, tài sản trí tuệ và dữ liệu thuộc nhóm quyền tài sản có thể được sử dụng làm tài sản cho thuê tài chính, bên cạnh máy móc, thiết bị, dụng cụ và phương tiện vận tải. Sự mở rộng này tạo thêm kênh tài trợ trung hạn, dài hạn cho tài sản số, nhưng cũng đặt ra những vấn đề mà mô hình cho thuê tài sản hữu hình ít gặp: quyền nào thực sự được chuyển giao, tài sản được định giá ra sao, bên cho thuê kiểm soát quyền trong thời hạn hợp đồng bằng cách nào và xử lý thế nào khi bên thuê vi phạm.

1. Từ tài sản hữu hình đến quyền tài sản trong hoạt động cho thuê tài chính

Khoản 2 Điều 3 Thông tư 31/2026/TT-NHNN liệt kê tài sản cho thuê tài chính gồm máy móc, thiết bị, dụng cụ, phương tiện vận tải và các quyền tài sản như phần mềm, quyền khai thác, tài sản trí tuệ, dữ liệu, với điều kiện không thuộc danh mục mà pháp luật cấm sở hữu, mua, bán, sử dụng, kinh doanh, xuất khẩu hoặc nhập khẩu. Việc gọi chung các đối tượng số là quyền tài sản có ý nghĩa quan trọng: đối tượng của giao dịch không nhất thiết là một vật có thể chiếm hữu, mà có thể là quyền sử dụng, quyền khai thác hoặc quyền tài sản phát sinh từ một đối tượng vô hình. Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015 của Quốc hội xác định tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản; quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, trong đó có quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.

Tuy nhiên, việc một đối tượng được mô tả là phần mềm, dữ liệu hoặc tài sản trí tuệ không tự động làm cho toàn bộ đối tượng đó có thể được mua và cho thuê. Phải xác định chính xác chủ thể có quyền, phạm vi quyền được phép chuyển giao và các giới hạn theo hợp đồng hoặc pháp luật chuyên ngành. Một phần mềm có thể do doanh nghiệp sở hữu mã nguồn, được cấp giấy phép không độc quyền hoặc chỉ được quyền sử dụng cho mục đích nội bộ; ba trạng thái này tạo ra giá trị và khả năng chuyển giao khác nhau. Dữ liệu có thể gắn với quyền của chủ thể dữ liệu, bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh, điều kiện truy cập hoặc thỏa thuận hạn chế chuyển giao. Tài sản trí tuệ còn chịu sự điều chỉnh của Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 ngày 29/11/2005 của Quốc hội, đã được sửa đổi, bổ sung qua các thời kỳ. Vì vậy, bước đầu tiên của giao dịch là xác định “gói quyền” cụ thể chứ không chỉ gọi tên tài sản.

2. Cơ chế sở hữu trong hợp đồng và những khác biệt của tài sản số

Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 31/2026/TT-NHNN, cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung hạn, dài hạn trên cơ sở hợp đồng, trong đó bên cho thuê mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và nắm giữ quyền sở hữu tài sản trong suốt thời hạn cho thuê; bên thuê sử dụng tài sản và thanh toán tiền thuê. Đối với máy móc, quyền sở hữu có thể được hỗ trợ bởi chứng từ mua bán, số sê-ri, đăng ký và khả năng thu hồi vật. Đối với tài sản số, quan hệ này phải được cụ thể hóa bằng quyền truy cập, khóa cấp phép, phạm vi người dùng, lãnh thổ, thời hạn, quyền cập nhật và điều kiện chuyển giao lại. Nếu nhà cung cấp gốc chỉ cấp giấy phép trực tiếp cho bên thuê hoặc cấm chuyển nhượng, bên cho thuê có thể không thực sự nắm giữ quyền như cấu trúc của giao dịch yêu cầu.

Hợp đồng vì vậy cần được thiết kế đồng bộ giữa ba quan hệ: hợp đồng mua hoặc nhận chuyển giao từ nhà cung cấp, hợp đồng cho thuê tài chính và điều kiện kỹ thuật vận hành tài sản. Các văn bản phải thống nhất về đối tượng, thời hạn và phạm vi quyền. Với phần mềm dạng dịch vụ, cần làm rõ quyền của bên cho thuê là quyền tài sản có thể cho thuê hay chỉ là nghĩa vụ cung cấp dịch vụ định kỳ của nhà cung cấp. Với dữ liệu, cần xác định bên thuê được tải xuống, phân tích, tạo sản phẩm phái sinh hoặc chia sẻ cho bên thứ ba đến đâu. Với quyền sở hữu trí tuệ, phải xem xét tình trạng đăng ký, tranh chấp, quyền của đồng chủ sở hữu và giới hạn lãnh thổ. Nếu không giải quyết các câu hỏi này từ đầu, bên cho thuê có thể cấp tín dụng dựa trên một quyền khó kiểm soát hoặc không thể chuyển giao khi hợp đồng chấm dứt.

3. Định giá, kiểm soát rủi ro và xử lý tài sản khi bên thuê vi phạm

Định giá tài sản số không thể chỉ dựa trên chi phí tạo lập. Giá trị của phần mềm hoặc dữ liệu phụ thuộc vào khả năng tạo dòng tiền, mức độ độc quyền, chất lượng, khả năng cập nhật, thời gian hữu dụng, sự phụ thuộc vào nhà cung cấp và chi phí duy trì. Một bộ dữ liệu có thể mất giá nhanh khi lỗi thời; một phần mềm có thể không thể vận hành nếu thiếu dịch vụ đám mây, khóa bản quyền hoặc đội ngũ bảo trì; một quyền sở hữu trí tuệ có thể giảm giá trị khi bị tranh chấp hoặc sắp hết thời hạn bảo hộ. Do đó, hồ sơ thẩm định cần kiểm tra cả quyền pháp lý lẫn điều kiện kỹ thuật tạo nên khả năng khai thác. Phương pháp định giá, giả định doanh thu, tỷ lệ suy giảm giá trị và thị trường chuyển nhượng thứ cấp phải được ghi nhận để có thể xem xét lại trong suốt thời hạn cấp tín dụng.

Khả năng xử lý tài sản khi bên thuê vi phạm là phép thử quan trọng đối với cấu trúc giao dịch. Bên cho thuê cần biết có thể chấm dứt quyền truy cập, thu hồi khóa cấp phép, chuyển quyền cho khách hàng khác hoặc yêu cầu xóa bản sao hay không. Đối với dữ liệu có chứa thông tin cá nhân hoặc thông tin hạn chế truy cập, việc thu hồi và chuyển giao phải tiếp tục tuân thủ mục đích xử lý, phạm vi cho phép và biện pháp bảo mật; không thể bán lại chỉ vì hợp đồng cho thuê đã chấm dứt. Hợp đồng nên quy định cơ chế bàn giao, sao lưu, xóa dữ liệu, xác nhận tiêu hủy, xử lý sản phẩm phái sinh và trách nhiệm khi quyền của bên thứ ba bị xâm phạm. Công ty tài chính cũng cần kiểm tra nguồn gốc quyền, tình trạng tranh chấp, điều khoản cấp phép, khả năng định giá độc lập và phương án xử lý trước khi quyết định tài trợ. Quản trị tốt đòi hỏi tài sản phải vừa có giá trị kinh tế, vừa có quyền pháp lý đủ rõ và cơ chế kiểm soát kỹ thuật khả thi.

4. Kết luận

Việc đưa phần mềm, dữ liệu, quyền khai thác và tài sản trí tuệ vào phạm vi tài sản cho thuê tài chính mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp dựa trên tài sản số và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, tài sản vô hình không thể được áp dụng máy móc theo mô hình của máy móc hoặc phương tiện vận tải. Đối tượng cốt lõi của giao dịch là một tập hợp quyền có phạm vi, thời hạn và điều kiện cụ thể; giá trị của tài sản phụ thuộc đồng thời vào căn cứ pháp lý, khả năng vận hành và thị trường chuyển nhượng. Vì vậy, hiệu quả của cơ chế mới phụ thuộc vào chất lượng thẩm định quyền, phương pháp định giá, sự thống nhất giữa hợp đồng mua và hợp đồng cho thuê, cùng phương án kiểm soát hoặc thu hồi tài sản khi rủi ro phát sinh. Chỉ khi ba lớp pháp lý, tài chính và kỹ thuật được thiết kế như một chỉnh thể, tài sản số mới có thể trở thành nền tảng cấp tín dụng an toàn thay vì một nguồn rủi ro khó định lượng.

#Chính sách / Quy định mới cập nhật
Cho thuê tài chính đối với phần mềm, dữ liệu và tài sản trí tuệ: Cơ hội vốn và bài toán định giá quyền tài sản | CLEX | CLEX