|
BỘ
TÀI CHÍNH
TỔNG CỤC HẢI QUAN
-------
|
CỘNG
HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------
|
|
Số: 3570/TCHQ-TXNK
V/v: phạt chậm nộp thuế TTĐB.
|
Hà
Nội, ngày 16 tháng 7 năm 2012
|
|
Kính
gửi:
|
Công ty TNHH Thương mại và Thiết
bị môi trường Hiệp Hòa.
(11 Nguyễn Chí Thanh – TP. Hà Nội)
|
Tổng cục Hải quan nhận được công
văn số 126/PKD/HH ngày 16/5/2012 của Công ty TNHH Thương mại và Thiết bị môi
trường Hiệp Hòa về việc phạt chậm nộp thuế TTĐB. Về vấn đề này, Tổng cục Hải
quan có ý kiến như sau:
1/ Về kiến nghị không tính phạt chậm nộp thuế TTĐB đối với lô hàng nhập khẩu phục vụ trực tiếp cho an ninh quốc phòng:
Căn cứ quy định tại Điều 106 Luật Quản lý thuế thì người nộp thuế có hành vi chậm nộp tiền thuế so với thời hạn quy định, thời hạn gia hạn nộp thuế, thời hạn ghi trong quyết định xử lý của cơ quan quản lý thuế thì phải nộp đủ tiền thuế và bị xử phạt 0,05% mỗi ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp. Đề nghị công ty thực hiện theo đúng quy định.
2/ Về kiến nghị lúc đăng ký tờ khai đối với hàng hóa nhập khẩu phục vụ hàng an ninh quốc phòng thì tính luôn thuế TTĐB:
Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 6 Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12 ngày 14/11/2008, khoản 1 Điều 99 và khoản 1 Điều 105 Thông tư 194/2010/TT-BTC ngày 6/12010 của Bộ Tài chính thì: tại thời điểm đăng ký tờ khai nhập khẩu, lô hàng nhập khẩu của công ty chưa xác định có đủ điều kiện miễn thuế theo quy định miễn thuế hàng an ninh quốc phòng hay không? Do đó, việc công ty kiến nghị lúc đăng ký tờ khai đối với hàng hóa nhập khẩu phục vụ hàng an ninh quốc phòng thì tính luôn thuế TTĐB (trong đó trị giá tính thuế TTĐB không bao gồm thuế nhập khẩu) là không có cơ sở để xem xét.
3/ Nội dung kiến nghị tại điểm 3 công văn, đề nghị công ty liên hệ với Bộ Công an để xử lý theo đúng thẩm quyền.
Tổng cục Hải quan thông báo để Công ty TNHH Thương mại và Thiết bị môi trường Hiệp Hòa được biết và thực hiện.
Nơi nhận:
- Như trên;
- Lưu: VT, TXNK – QLN (3b). | KT. TỔNG CỤC TRƯỞNG
PHÓ TỔNG CỤC TRƯỞNG
Hoàng Việt Cường
Luật 27/2008/QH12 thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 số 26/2008/QH12
Luật 78/2006/QH11 quản lý thuế 2006
Thông tư 194/2010/TT-BTC hướng dẫn thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải
2. Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá tính thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế không bao gồm số thuế nhập khẩu được miễn, giảm;
Điều 6. Giá tính thuế
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt và chưa có thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:
Điều 105. Các trường hợp xét miễn thuế
Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong các trường hợp sau đây được xét miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
1. Thời điểm tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là ngày đăng ký tờ khai hải quan. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được tính theo thuế suất, trị giá tính thuế và tỷ giá tính thuế tại thời điểm tính thuế.
Trường hợp người nộp thuế kê khai, tính thuế trước ngày đăng ký tờ khai hải quan nhưng có tỷ giá khác với tỷ giá tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan thì cơ quan hải quan thực hiện tính lại số thuế phải nộp theo tỷ giá tại thời điểm đăng ký tờ khai.
Điều 99. Thời điểm tính thuế, tỷ giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
Điều 106. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp tiền thuế
1. Hàng hoá nhập khẩu là hàng chuyên dùng trực tiếp phục vụ cho an ninh, quốc phòng theo kế hoạch cụ thể do Bộ chủ quản phê duyệt đã được đăng ký và thống nhất với Bộ Tài chính từ đầu năm (chậm nhất đến hết 31/03 hàng năm Bộ chủ quản phải đăng ký kế hoạch hàng hóa nhập khẩu và phân loại theo hai danh mục riêng: danh mục thuộc nguồn vốn ngân sách trung ương và danh mục nguồn vốn ngân sách địa phương).
Riêng hàng hóa là hàng chuyên dùng trực tiếp phục vụ cho an ninh, quốc phòng thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương chỉ được xét miễn thuế nếu thuộc loại trong nước chưa sản xuất được. Cơ sở để xác định hàng hóa thuộc loại trong nước chưa sản xuất được làm căn cứ xét miễn thuế là Danh mục hàng hóa trong nước đã sản xuất được theo quy định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Luật 27/2008/QH12 thuế tiêu thụ đặc biệt 2008 số 26/2008/QH12
Luật 78/2006/QH11 quản lý thuế 2006
Thông tư 194/2010/TT-BTC hướng dẫn thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải
2. Đối với hàng hóa nhập khẩu là giá tính thuế nhập khẩu cộng với thuế nhập khẩu. Trường hợp hàng hóa nhập khẩu được miễn, giảm thuế nhập khẩu thì giá tính thuế không bao gồm số thuế nhập khẩu được miễn, giảm;
Điều 6. Giá tính thuế
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hoá, dịch vụ là giá bán ra, giá cung ứng dịch vụ chưa có thuế tiêu thụ đặc biệt và chưa có thuế giá trị gia tăng được quy định như sau:
Điều 105. Các trường hợp xét miễn thuế
Hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu trong các trường hợp sau đây được xét miễn thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu:
1. Thời điểm tính thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu là ngày đăng ký tờ khai hải quan. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được tính theo thuế suất, trị giá tính thuế và tỷ giá tính thuế tại thời điểm tính thuế.
Trường hợp người nộp thuế kê khai, tính thuế trước ngày đăng ký tờ khai hải quan nhưng có tỷ giá khác với tỷ giá tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan thì cơ quan hải quan thực hiện tính lại số thuế phải nộp theo tỷ giá tại thời điểm đăng ký tờ khai.
Điều 99. Thời điểm tính thuế, tỷ giá tính thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu
Điều 106. Xử phạt đối với hành vi chậm nộp tiền thuế
1. Hàng hoá nhập khẩu là hàng chuyên dùng trực tiếp phục vụ cho an ninh, quốc phòng theo kế hoạch cụ thể do Bộ chủ quản phê duyệt đã được đăng ký và thống nhất với Bộ Tài chính từ đầu năm (chậm nhất đến hết 31/03 hàng năm Bộ chủ quản phải đăng ký kế hoạch hàng hóa nhập khẩu và phân loại theo hai danh mục riêng: danh mục thuộc nguồn vốn ngân sách trung ương và danh mục nguồn vốn ngân sách địa phương).
Riêng hàng hóa là hàng chuyên dùng trực tiếp phục vụ cho an ninh, quốc phòng thuộc nguồn vốn ngân sách địa phương chỉ được xét miễn thuế nếu thuộc loại trong nước chưa sản xuất được. Cơ sở để xác định hàng hóa thuộc loại trong nước chưa sản xuất được làm căn cứ xét miễn thuế là Danh mục hàng hóa trong nước đã sản xuất được theo quy định của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.