Quay lại

Dự thảo Không số nghị định thư thứ hai sửa đổi Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập giữa Việt Nam - Hàn Quốc

NGHỊ ĐỊNH THƯ THỨ HAI SỬA ĐỔI HIỆP ĐỊNH GIỮA

CHÍNH PHỦ NƯỚC ĐẠI HÀN DÂN QUỐC

CHÍNH PHỦ NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

VỀ TRÁNH ĐÁNH THUẾ HAI LẦN

VÀ NGĂN NGỪA VIỆC TRỐN LẬU THUẾ

ĐỐI VỚI CÁC LOẠI THUẾ ĐÁNH VÀO THU NHẬP

KÝ TẠI HÀ NỘI NGÀY 20 THÁNG 5 NĂM 1994

ー 19 ー

THƯ VIỆN PHÁP LUẬT* Ter +84-28-3930 3279 * www.ThuVienPhapLuat.vn

Chính phủ Nước Đại Hàn Dân Quốc và Chính phủ Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam,

Mong muốn sửa đổi Hiệp định giữa Chính phủ Nước Đại Hàn Dân Quốc và Chính phủ Nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập ký tại Hà Nội ngày 20 tháng 5 năm 1994 (sau đây được gọi là "Hiệp định"),

Đã thoả thuận dưới đây:

ĐIỀU I

Liên quan đến Điều 2 (Các loại thuế bao gồm trong Hiệp định):

Khoản 3 sẽ được xóa bỏ và được thay thế như sau:

"3. Những loại thuế hiện hành được áp dụng trong Hiệp định này là:

a) trong trường hợp Hàn Quốc:

(i) thuế thu nhập;

(ii) thuế thu nhập doanh nghiệp;

(iii)thuế thu nhập địa phương; và

(iv)thuế đặc biệt cho phát triển nông thôn

(sau đây gọi là "thuế Hàn Quốc");

b) trong trường hợp Việt Nam:

(i) thuế thu nhập cá nhân; và

(ii) thuế thu nhập doanh nghiệp (bao gồm thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với nhà thầu nước ngoài)

(sau đây gọi là "thuế Việt Nam")."

ー 21 ー

ĐIỀU II

Liên quan đến Điều 7 (Lợi tức Doanh nghiệp):

a) Được hiểu rằng nội dung giải thích tại các đoạn 36 và 37 của Bình luận Mẫu

Hiệp định thuế OECD về Điều 7 phiên bản ngày 21 tháng 11 năm 2017 được áp dụng.

b) Trong trường hợp không có số liệu kế toán hoặc các số liệu khác thích hợp cho phép xác định lợi nhuận được phân bổ cho một cơ sở thường trú, thuế có thể được xác định tại một Nước ký kết nơi có cơ sở thường trú phù hợp với pháp luật Nước đó, được xác định cụ thể như các khoản lợi nhuận thông thường của các doanh nghiệp tương tự hoạt động giống nhau hoặc tương tự trong các điều kiện giống nhau hoặc tương tự nhau, với điều kiện là dựa trên cơ sở của các thông tin đã có, việc xác định lợi nhuận của cơ sở thường trú đó phù hợp với các nguyên tắc đã nêu tại Điều này.

ĐIỀU III

Điều 8 (Vận tải biển và Vận tải hàng không) của Hiệp định thuế sẽ được xóa bỏ và thay thế như sau:

"Điều 8

VẬN TẢI BIỂN VÀ VẬN TẢI HÀNG KHÔNG QUỐC TẾ

1. Lợi tức của một doanh nghiệp của một Nước ký kết từ hoạt động của tàu thủy hoặc máy bay trong vận tải quốc tế sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước đó.

2. Những quy định của khoản 1 cũng sẽ áp dụng cho các khoản lợi tức thu được từ việc tham gia vào một tổ hợp, một liên doanh hay một hãng hoạt động quốc tế.

3. Theo nội dung Điều này, thuật ngữ "lợi tức thu được từ hoạt động của tàu thủy hoặc máy bay trong vận tải quốc tế" sẽ bao gồm cả lợi tức từ sử dụng, duy trì hoặc cho thuê công-ten-nơ (kể cả xe moóc và các thiết bị liên quan đến vận chuyển công-ten-nơ) được sử dụng trong vận tải hàng hóa và tài sản nếu việc sử dụng, duy trì hoặc cho thuê đó, tùy từng trường hợp, là phụ trợ cho hoạt động của các tàu thuỷ hoặc máy bay trong vận tải quốc tế."

ĐIỀU IV

Điều 9 (Các Doanh nghiệp Liên kết) của Hiệp định sẽ được xóa bỏ và được thay thế như sau:

"Điều 9

CÁC DOANH NGHIỆP LIÊN KẾT

1. Khi

a) một doanh nghiệp của một Nước ký kết tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, hoặc

b) các đối tượng cùng tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc điều hành, kiểm soát hoặc góp vốn vào một doanh nghiệp của một Nước ký kết và vào một doanh nghiệp của Nước ký kết kia, và trong cả hai trường hợp, trong mối quan hệ thương mại hoặc tài chính giữa hai doanh nghiệp trên có những điều kiện được đưa ra hoặc áp đặt khác với điều kiện được đưa ra giữa các doanh nghiệp độc lập, khi đó mọi khoản lợi tức mà một doanh nghiệp có thể thu được nếu không có những điều kiện trên nhưng nay vì những điều

23 ー

kiện này mà doanh nghiệp đó không thu được, sẽ vẫn được tính vào các khoản lợi nhuận của doanh nghiệp đó và phải chịu thuế tương ứng.

2. Khi một Nước ký kết tính vào các khoản lợi tức của một doanh nghiệp tại Nước đó - và đánh thuế tương ứng - các khoản lợi tức mà một doanh nghiệp của Nước ký kết kia đã bị đánh thuế tại Nước kia và các khoản lợi tức được tính vào như vậy là những khoản lợi tức lẽ ra thuộc về doanh nghiệp của Nước thứ nhất nếu các điều kiện đặt ra giữa hai doanh nghiệp trên cũng là các điều kiện đặt ra giữa các doanh nghiệp độc lập, khi đó, Nước kia sẽ điều chỉnh các khoản thuế đã nộp đối với khoản lợi nhuận trên cho phù hợp. Khi xác định điều chỉnh trên, sẽ xem xét tới các quy định khác của Hiệp định này và các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ tham khảo ý kiến của nhau nếu cần thiết."

ĐIỀU V

Liên quan đến Điều 11 (Lãi tiền cho vay):L

Khoản 3 sẽ được xóa bỏ và được thay thế như sau:

"3. Mặc dù đã có những quy định tại khoản 2, lãi từ tiền cho vay phát sinh tại một

Nước ký kết và trả cho Chính phủ của Nước ký kết kia bao gồm cả các chính quyền cơ sở và chính quyền địa phương tại Nước đó, Ngân hàng trung ương của Nước ký kết kia hay bất kỳ tổ chức tài chính nào thực hiện các chức năng có tính chất Chính phủ hay trả cho bất kỳ đối tượng cư trú nào của Nước ký kết kia đối với khoản vay nợ do Chính phủ của Nước ký kết kia bao gồm các chính quyền cơ sở và chính quyền địa phương Nước đó, Ngân hàng trung ương của Nước ký kết kia hay bất kỳ tổ chức tài chính nào thực hiện các chức năng Chính phủ, bảo lãnh hay gián tiếp tài trợ sẽ được miễn thuế tại Nước ký kết thứ nhất. Trong trường hợp các khoản vay thì với điều kiện lãi từ tiền vay phát sinh từ các khoản vay mà phần vốn gốc được chuyển trực tiếp từ tài khoản của các tổ chức nêu trên."

ĐIỀU VI

Điều 12 (Tiền bản quyền) của Hiệp định sẽ được xóa bỏ và được thay thế như sau:

"Điều 12

TIỀN BẢN QUYỀN VÀ PHÍ DỊCH VỤ KỸ THUẬT

1. Tiền bản quyền và phí dịch vụ kỹ thuật phát sinh tại một Nước ký kết và được trả cho đối tượng cư trú của Nước ký kết kia có thể phải chịu thuế tại Nước kia.

2. Tuy nhiên, những khoản tiền bản quyền và phí dịch vụ kỹ thuật đó cũng có thể bị đánh thuế tại Nước ký kết nơi phát sinh, và theo các luật của Nước này, nhưng nếu đối tượng thực hưởng tiền bản quyền hoặc phí dịch vụ kỹ thuật là đối tượng cư trú của Nước ký kết kia, thì mức thuế được tính sẽ không vượt quá:

a) đối với tiền bản quyền:

(i) 5 phần trăm tổng số tiền bản quyền trong trường hợp là khoản tiền thanh toán dưới bất kỳ hình thức nào trả cho việc sử dụng hay quyền sử dụng bằng phát minh, thiết kế hoặc mẫu, đồ án, công thức hoặc quy trình bí mật, hay trả cho việc sử dụng hay quyền sử dụng thiết bị công nghiệp, thương mại hay khoa học hay trả cho thông tin liên quan đến các kinh nghiệm công nghiệp, thương mại hay khoa học;

(ii) 10 phần trăm tổng số tiền bản quyền trong các trường hợp khác;

b) đối với phí dịch vụ kỹ thuật: 7,5 phần trăm tổng số tiền phí dịch vụ kỹ thuật.

25 ー

3. Thuật ngữ "tiền bản quyền" được sử dụng trong Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán ở bất cứ dạng nào được trả cho việc sử dụng, hoặc quyền sử dụng, bản quyền tác giả của một tác phẩm văn học, nghệ thuật hay khoa học, kể cả phim điện ảnh, hoặc các loại phim hay băng dùng trong phát thanh và truyền hình, bằng phát minh, nhãn hiệu thương mại, thiết kế hoặc mẫu, đồ án, công thức hoặc quy trình bí mật, hay trả cho việc sử dụng, hay quyền sử dụng thiết bị công nghiệp, thương mại hoặc khoa học, hay trả cho thông tin liên quan đến kinh nghiệm công nghiệp, thương mại hoặc khoa học. Thuật ngữ "phí dịch vụ kỹ thuật" được sử dụng tại Điều này có nghĩa là các khoản thanh toán dưới bất kỳ hình thức nào trả cho một đối tượng, không phải là các khoản thanh toán cho một người làm công của đối tượng trả tiền cho bất kỳ dịch vụ nào có tính chất kỹ thuật, quản lý hoặc tư vấn tại Nước ký kết nơi đối tượng thanh toán là đối tượng cư trú.

4. Những quy định tại các khoản 1 và 2 sẽ không áp dụng nếu đối tượng thực hưởng các khoản tiền bản quyền hoặc phí dịch vụ kỹ thuật, là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, tiến hành hoạt động kinh doanh tại Nước ký kết kia nơi có khoản tiền bản quyền hoặc phí dịch vụ kỹ thuật phát sinh, thông qua một cơ sở thường trú nằm tại Nước kia hoặc tiến hành tại Nước kia các hoạt động dịch vụ cá nhân độc lập thông qua một cơ sở cố định nằm tại Nước kia, và quyền hay tài sản có các khoản tiền bản quyền hoặc phí dịch vụ kỹ thuật được trả có sự liên hệ thực tế với cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó. Trong trường hợp này, các quy định của Điều 7 hoặc Điều 14, tùy từng trường hợp, sẽ được áp dụng.

5. Tiền bản quyền và phí dịch vụ kỹ thuật sẽ được coi là phát sinh tại một Nước ký kết khi đối tượng trả tiền bản quyền chính là Nhà nước đó, chính quyền cơ sở, chính quyền địa phương hoặc một đối tượng cư trú của Nước đó. Tuy nhiên, khi một đối tượng trả tiền bản quyền hoặc phí dịch vụ kỹ thuật, là hay không là đối tượng cư trú của một Nước ký kết, có ở một Nước ký kết một cơ sở thường trú hay một cơ sở cố định liên quan đến trách nhiệm trả tiền bản quyền hoặc phí dịch vụ kỹ thuật đã phát sinh và tiền bản quyền hoặc phí dịch vụ kỹ thuật đó do cơ sở thường trú hoặc cơ sở cố định đó chịu thì khoản tiền bản quyền hoặc phí dịch vụ kỹ thuật này sẽ vẫn được coi là phát sinh ở Nước nơi cơ sở thường trú hay cơ sở cố định đó đóng.

6. Trường hợp vì mối quan hệ đặc biệt giữa đối tượng trả và đối tượng thực hưởng hoặc giữa cả hai đối tượng trên với các đối tượng khác, khoản tiền bản quyền hoặc phí dịch vụ kỹ thuật được trả cho việc sử dụng, quyền hoặc thông tin, vượt quá khoản tiền được thỏa thuận giữa đối tượng trả và đối tượng thực hưởng khi không có mối quan hệ đặc biệt này, thì các quy định của Điều này sẽ chỉ áp dụng đối với khoản tiền thanh toán khi không có mối quan hệ trên. Trong trường hợp đó, phần thanh toán vượt sẽ bị đánh thuế theo luật của từng Nước ký kết, có xem xét thích đáng đến các quy định khác của Hiệp định này."

ĐIỀU VII

Liên quan đến Điều 13 (Thu nhập từ chuyển nhượng tài sản) của Hiệp định:

1. Khoản 4 sẽ được xóa bỏ và được thay thế như sau:
"4. Lợi tức thu được bởi một đối tượng cư trú của một Nước ký kết từ việc chuyển nhượng phần vốn góp tại một công ty có trên 50 phần trăm giá trị tài sản trực tiếp hoặc gián tiếp là bất động sản nằm tại Nước ký kết kia có thể bị đánh thuế tại Nước kia."

2. Khoản 5 sẽ được xóa bỏ và được thay thế như sau:
"5. Lợi tức từ việc chuyển nhượng các cổ phần không phải là các cổ phần được đề
27 -
cập tại khoản 4, đại diện cho sự tham gia ít nhất 15 phần trăm vào một công ty là đối tượng cư trú của một Nước ký kết có thể bị đánh thuế tại Nước đó."

3. Khoản 6 sẽ được bổ sung như sau:
"6. Lợi nhuận thu được từ việc chuyển nhượng bất kỳ tài sản nào khác với tài sản nêu tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 sẽ chỉ bị đánh thuế tại Nước nơi đối tượng chuyển nhượng là đối tượng cư trú."
ĐIỀU VIII
Liên quan đến Điều 24 (Không phân biệt đối xử):

1. Khoản 3 sẽ được xóa bỏ và được thay thế như sau:
"3. Trừ khi áp dụng các quy định tại Điều 9, khoản 8 của Điều 11, hoặc khoản 6 của Điều 12, lãi từ tiền cho vay, tiền bản quyền, phí dịch vụ kỹ thuật và các khoản thanh toán khác do một doanh nghiệp của một Nước ký kết trả cho một đối tượng cư trú tại Nước ký kết kia, cho mục đích xác định thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp đó, sẽ được trừ vào chi phí theo cùng những điều kiện như trường hợp các khoản tiền nêu trên được trả cho đối tượng cư trú tại Nước thứ nhất."

2. Được hiểu rằng, nếu một Nước ký kết sau đây ký hoặc đã ký hiệp định thuế với nước nào khác có các điều khoản không phân biệt đối xử đối với một đối tượng cư trú của Nước kia ít phân biệt đối xử hơn so với các điều khoản không phân biệt đối xử của Hiệp định này, điều khoản được đề cập trước sẽ được áp dụng ngay lập tức để thay thế các điều khoản được đề cập sau.
ĐIỀU IX
Liên quan đến Điều 26 (Trao đổi Thông tin):
Khoản 1 sẽ được xóa bỏ và được thay thế như sau:
"1. Các nhà chức trách có thẩm quyền của hai Nước ký kết sẽ trao đổi với nhau các thông tin được thấy trước là thích hợp cho việc thực hiện các quy định của Hiệp định này hoặc để quản lý hoặc cưỡng chế tuân thủ luật trong nước liên quan đến các loại thuế và khoản thu của từng Nước ký kết hoặc của chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương của nước đó, sao cho việc đánh thuế không trái với Hiệp định này. Việc trao đổi thông tin không bị giới hạn bởi các Điều 1 và 2. Mọi thông tin do một Nước ký kết nhận được sẽ được giữ bí mật giống như thông tin thu nhận theo các luật trong nước của Nước này và thông tin đó sẽ chỉ được cung cấp cho các đối tượng hoặc các cơ quan chức năng (bao gồm cả tòa án và các cơ quan hành chính) có liên quan đến việc tính toán hoặc thu, cưỡng chế hoặc truy tố hoặc xác định các khiếu nại về các loại thuế quy định bởi Hiệp định, hoặc giám sát các nội dung trên. Các đối tượng hoặc các cơ quan chức năng này sẽ chỉ sử dụng các thông tin đó vào các mục đích nêu trên. Các đối tượng và các cơ quan đó có thể cung cấp các thông tin này trong quá trình tố tụng công khai của tòa án hoặc trong các quyết định của tòa án".
Hai khoản 3 và 4 mới sẽ được thêm vào như sau:
"3. Nếu thông tin do một Nước ký kết yêu cầu phù hợp với Điều này, Nước ký kết kia sẽ sử dụng các biện pháp thu thập thông tin của mình để có được các thông tin theo yêu cầu, mặc dù Nước kia có thể không cần các thông tin như vậy cho mục đích thuế của mình. Nghĩa vụ được quy định tại câu trên phụ thuộc vào các giới hạn tại khoản 2 nhưng trong mọi trường hợp, các giới hạn này không có nghĩa là cho phép một Nước ký kết từ chối việc cung cấp thông tin chỉ vì Nước ký kết đó không có lợi ích trong nước đối với các thông tin như vậy.
29 ー
30 ー
4. Trong mọi trường hợp, các quy định tại khoản 2 sẽ không cho phép một Nước ký kết từ chối việc cung cấp thông tin chỉ vì thông tin do một ngân hàng, tổ chức tài chính, đối tượng được chỉ định hoặc đối tượng với tư cách đại lý hoặc đối tượng được uỷ thác khác nắm giữ hoặc chỉ vì thông tin có liên quan tới các lợi ích về sở hữu trong một đối tượng."
ĐIỀU X

Điều 28 (Giới hạn Hưởng lợi) sẽ được thêm vào như sau:

"Điều 28

GIỚI HẠN HƯỞNG LỢI

1. Mặc dù có các quy định tại các điều khoản khác của Hiệp định này, một đối tượng cư trú của một Nước ký kết sẽ không được hưởng lợi ích từ bất kỳ việc miễn hoặc giảm thuế của Nước ký kết kia theo quy định của Hiệp định này nếu mục đích chính hoặc một trong những mục đích chính của đối tượng cư trú đó hoặc một đối tượng liên quan đến đối tượng cư trú đó là để hưởng lợi từ Hiệp định này.

2. Hiệp định này sẽ không ngăn cản một Nước ký kết áp dụng luật trong nước để ngăn chặn trốn thuế hoặc tránh thuế.

3. Các lợi ích của hiệp định này sẽ không được dành cho một đối tượng cư trú của một Nước ký kết bị kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bởi một hoặc nhiều đối tượng không phải là đối tượng cư trú của Nước ký kết đó."

ĐIỀU XI

Điều 28 (Hiệu lực) và Điều 29 (Kết thúc Hiệp định) của Hiệp định sẽ được đánh số lại là Điều 29 (Hiệu lực) và Điều 30 (Kết thúc Hiệp định).

ĐIỀU XII

1. Mỗi Nước ký kết sẽ thông báo cho Nước ký kết kia việc hoàn thành các thủ tục trong nước cần thiết theo yêu cầu của luật Nước đó để Nghị định thư này có hiệu lực. Nghị định thư này sẽ có hiệu lực vào ngày thứ ba mươi sau ngày thông báo sau cùng và các điều khoản của Nghị định thư sẽ có hiệu lực tại cả hai Nước ký kết:

a) đối với các khoản thuế khấu trừ tại nguồn, trên số thuế được trả hoặc khấu trừ vào ngày hoặc sau ngày đầu tiên của tháng Một năm dương lịch tiếp theo năm Nghị định thư này có hiệu lực; và

b) đối với các khoản thuế khác, cho các năm tính thuế bắt đầu hoặc sau ngày đầu tiên của tháng Một của năm dương lịch tiếp theo năm Nghị định thư này có hiệu lực.

2. Nghị định thư này, là một phần không tách rời của Hiệp định, sẽ có hiệu lực khi
Hiệp định còn hiệu lực và sẽ được áp dụng trong thời gian Hiệp định có thể áp dụng.
ĐỂ LÀM BẰNG, những người có tên dưới đây, được sự ủy quyền hợp thức của Chính phủ nước mình, đã ký vào Nghị định thư này.

2. NGHỊ ĐỊNH THƯ ĐƯỢC LÀM thành hai bản tại Seoul, vào ngày 27, tháng 11, năm 2019, bằng tiếng Hàn Quốc, tiếng Việt và tiếng Anh, tất cả các văn bản trên có giá trị ngang nhau. Trường hợp có sự khác biệt trong quá trình giải thích, văn bản tiếng Anh sẽ được dùng làm cơ sở.


31


Thay mặt Chính phủ
Nước Đại Hàn Dân Quốc
Thay mặt Chính phủ
Nước Cộng hòa hội chủ nghĩa Việt Nam

Tổng quan văn bản

Số ký hiệuKhông số
Ngày ban hành27/11/2019
Loại văn bảnDự thảo
Ngày có hiệu lực---
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýChính phủ / ***
Phạm viTrung ương, Chính phủ
Trích yếuNghị định thư thứ hai sửa đổi Hiệp định về tránh đánh thuế hai lần và ngăn ngừa việc trốn lậu thuế đối với các loại thuế đánh vào thu nhập giữa Việt Nam - Hàn Quốc
Tình trạng hiệu lựcChưa xác định

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.