VĂN PHÒNG THÀNH ỦY HẢI PHÒNG Văn phòng Thành ủy Hải Phòng 39
|
XÁC NHẬN
Sao tại Kho Lưu trữ
Thành ủy
|
07/12/2023 14:54:06
|
|
THÀNH UỶ HẢI PHÒNG
Số 06-NQ/TU
|
ĐẢNG
CỘNG
SẢN
VIỆT
NAM
Hải
Phòng, ngày
07
tháng 6
năm
2018
|
NGHỊ QUYẾT
CỦA BAN THƯỜNG VỤ THÀNH ỦY
Về phát triển kinh tế thủy sản, xây dựng Hải Phòng trở thành
Trung tâm nghề cá lớn của cả nước gắn với ngư trường Vịnh Bắc bộ
I. TÌNH HÌNH
1. Qua 10 năm thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TU ngày 20/10/2006 của Ban Thường vụ Thành ủy về "Đẩy mạnh phát triển kinh tế thủy sản giai đoạn 2006-2010, định hướng đến năm 2020", kinh tế thủy sản thành phố có những bước phát triển khá toàn diện theo hướng bền vững.
Năm 2016, GRDP thủy sản chiếm 2,0% tổng GRDP toàn thành phố; chiếm 33,01% tông GRDP nhóm ngành nông, lâm, thủy sản; gấp 3,65 lần so với năm 2006. Giá trị sản xuất tăng bình quân 6,03%/năm; sản lượng sản xuất tăng 5,3%/năm; kim ngạch xuât khâu tăng 3,59%/năm.
Năng lực khai thác hai sản xa bờ được nâng lên (sô lượng tàu khai thác công suất trên 90 CV tăng 4,86%/năm), phát triển đa nghề; củng co, đôi mới các mô hình khai thác trên biển; tăng số lượng và chất lượng các cơ sở dịch vụ hậu cần nghề cá, chế biến hải sản, phát triển các vùng nuôi thâm canh.
Phát triển các trại sản xuất giống thủy sản; chủ động sản xuất giống thủy sản nước ngọt có năng suất, giá trị kinh tế cao. Là địa phương dẫn đầu các tỉnh ven biển phía Bắc về sản xuất giống thủy sản nước mặn, nước lợ; cung ứng khoảng 50% nhu cầu về giống một số đối tượng thủy sản nuôi cho các tỉnh lân cận.
Có bước tiến mới về khoa học công nghệ sản xuất giống, nuôi trông, phòng trị bệnh thủy sản; cai tiến ngư cụ, dự báo ngư trường phục vụ khai thác; nâng cao chất lượng, hiệu quả chế biến... đáp ứng nhu cầu phát triển ngành thủy sản của thành phố và chuyên giao cho các địa phương trong vùng.
Một số cơ sở che biến đã đầu tư, nâng cấp thiết bị, công nghệ, nâng giá trị gia tăng sản phẩm. Tích cực nghiên cứu phát triển mặt hàng, nâng chất lượng sản phẩm, duy trì, mở rộng thị trường cả trong nước và ngoài nước.
2 10
Các cơ sở dịch vụ hậu cần thủy sản tại các địa bàn, vùng thủy sản trọng điểm phát triển đáp ứng nhu cầu hoạt động thủy sản của Hải Phòng và các tỉnh, thành khai thác tại ngư trường Vịnh Bắc bộ.
Thu nhập, đời sống của ngư dân được cải thiện; kinh tế thủy sản phát triển ngày càng bền vững hơn, góp phần quan trọng trong việc khẳng định và bảo vệ chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc.
2. Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được còn có những hạn chế:
Giá trị sản xuất thủy san tăng trưởng thấp, không đạt mục tiêu Nghị quyết. Tỷ trọng nuôi trồng giảm, dịch vụ giống tăng chậm.
Nuôi trồng chủ yếu quy mô nhỏ, hộ gia đình, quảng canh cải tiến chiếm 58,9%, nuôi thâm canh chỉ chiếm 20,05% tổng diện tích nuôi; chậm đầu tư phát triên sản xuất ứng dụng công nghệ cao. Đa số các dự án đầu tư nuôi trông thâm canh, công nghiệp triển khai dở dang. Nuôi biển mang tính tự phát, ảnh hưởng môi trường sinh thái và gây mất an ninh, trật tự.
Khai thác thủy sản còn nhiều hạn chế, chủ yếu tự phát, công nghệ chậm cải tiến, năng suất, hiệu quả thấp; khả năng vươn xa hạn chế, đa số tàu khai thác công suất nhỏ (dưới 20 CV chiếm 51,08%).
Các cơ sở chế biến chưa sử dụng hết công suất; chưa tạo được mối liên kết chặt chẽ từ khâu cung cấp nguyên liệu, chế biến đến tiêu thụ sản phẩm. Sản phẩm chế biến chưa phong phú, giá trị gia tăng không cao; phô biến là gia công, chế biến thô.
Các dự án đầu tư nâng cấp hạ tầng cang cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền triển khai chậm, kéo dài. Cơ sở hạ tầng phục vụ nuôi trồng, khai thác thiếu kinh phí đầu tư, duy tu bảo dưỡng, hầu hết xuống cấp.
Các cơ sở sản xuất, cung ứng giống năm phân tán, công nghệ hạn chế; giống cá biển sản xuất thành công ở quy mô nhỏ. Chưa sản xuất được một số chủng loại thức ăn nuôi tôm, cá nuôi lồng bè...
Công tác quy hoạch còn nhiều bất cập, chưa theo kịp yêu cầu phát triển, thiếu sự thống nhất với các ngành kinh tế khác. Chậm triên khai xây dựng quy hoạch chi tiết phát triên thủy sản ơ từng địa phương; chưa quan tâm quy hoạch nuôi trồng vùng bãi bôi ven sông, ven biên.
Tỷ lệ lao động ngành thủy san qua đào tạo, tập huấn đạt tỷ lệ thấp (35%).
Hợp tác phát triển thủy sản giữa Hải Phòng với các địa phương trong nước, khu vực và quốc tế còn hạn chế.
3. Những hạn chế nêu trên có nguyên nhân khách quan, nhưng nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Một số cấp ủy, chính quyền địa phương nhận thức
3 41 chưa đầy đủ về phát triển kinh tế thủy sản, cách thức tổ chức thực hiện còn chung chung, chưa chủ động có giải pháp để khai thác tốt tiềm năng, lợi thế của địa phương. Công tác phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương chưa chặt chẽ, hiệu quả. Quy hoạch phát triển ngành còn thiếu trọng tâm; nguồn lực đầu tư không tập trung, thu hút đầu tư đạt kết quả thấp. Đầu tư nâng cấp vùng sản xuất thủy sản tập trung, ứng dụng công nghệ cao còn hạn chế. Các đơn vị doanh nghiệp, cá nhân sản xuất thủy sản chưa thực sự mạnh dạn đầu tư lớn, còn trông chờ vào hỗ trợ của Nhà nước. Chưa phát huy hết sức mạnh của toàn dân trong việc quản lý, bảo vệ nguồn lợi thủy sản. Thiếu nhân lực trong đội ngũ chuyên trách về phát triển thủy sản tại cơ sở. Chất lượng nguồn lao động trực tiếp chưa đáp ứng yêu cầu phát triển ngành. Hình thức tổ chức sản xuất chậm đổi mới. Chưa chủ động xây dựng chương trình hợp tác trong lĩnh vực thủy sản với các tỉnh, thành phố trong nước, khu vực và quốc tế.
II. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU
1. Quan điểm
Phát triển kinh tế thủy sản phù hợp với chiến lược phát triển thủy sản Việt Nam, quy hoạch tông thể phát triển kinh tế - xã hội vùng và thành phố. Phát huy các lợi thế về địa lý, ưu thế về tiềm năng thủy sản, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Thủy sản Hải Phòng trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu.
Đẩy mạnh sản xuất giống, tăng tỷ trọng sản lượng và giá trị nuôi trồng ứng dụng công nghệ cao; bảo đảm hợp lý sản lượng khai thác vùng biên xa bờ, giảm sản lượng khai thác ven bờ, đi đôi với bảo vệ nguồn lợi, môi trường sinh thái; tăng nhanh năng lực chế biến, liên kết với vùng sản xuất nguyên liệu tập trung theo chuỗi giá trị. Xây dựng hệ thống cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền hiện đại, thích ứng biến đổi khí hậu, đồng bộ với các phân khu dịch vụ hậu cần thủy sản.
Xây dựng Hai Phòng trở thành Trung tâm nghề cá lớn của cả nước gắn với ngư trường Vịnh Bắc bộ, xác định đây là động lực thu hút đầu tư tăng trương thủy sản của các tỉnh, thành phố phía Bắc; tạo nền tảng cho bước phát triển từ nghề cá nhỏ, mang tính tự phát sang nghề cá hiện đại, với cơ cấu, hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, có năng suất. chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao.
2. Mục tiêu chung
Đến năm 2025: kinh tế thủy sản phát triên toàn diện, bền vững; phát triển đồng bộ hoạt động nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ cao với đào tạo, tập huấn, chuyên giao và hỗ trợ khơi nghiệp; gắn mục tiêu phát triển kinh tế
4 2 thủy sản với bảo vệ nguồn lợi thủy sản, bảo vệ môi trường, an toàn thực phẩm, góp phần bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững quốc phòng an ninh biên giới biên đảo Tổ quốc, gắn với xây dựng nông thôn mới.
Định hướng đến năm 2030: hoàn thành xây dựng Trung tâm nghề cá lớn của cả nước gắn với ngư trường Vịnh Bắc bộ; tiếp tục đầu tư, nâng cấp đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa tất cả các lĩnh vực kinh tế thủy sản, tăng trưởng bảo đảm chất lượng, phát triển ổn định, bền vững; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của ngư dân.
3. Mục tiêu cụ thể a. Giai đoạn 2016-2020
- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 2,9%/năm (nuôi trồng và dịch vụ giống thủy sản tăng 2,24%/năm; khai thác tăng 3,5%/năm).
- Tốc độ tăng trưởng sản lượng đạt 3 - 5%/năm. Đến năm 2020 sản lượng đạt 140.000 tấn (khai thác chiếm 59%, nuôi trồng 41%).
- Kim ngạch xuất khâu đến năm 2020 đạt 80 triệu USD.
- Giá trị sản xuất thủy sản chiếm 41,3% trong cơ cấu tổng giá trị sản xuất nhóm ngành nông nghiệp, thủy sản.
- Cơ cấu tỷ trọng giá trị khai thác - nuôi trồng và dịch vụ giống trong tổng giá trị sản xuất thủy sản là: 52,1% - 44,2% và 3,7%.
- Trên 70% số lao động nghe cá được đào tạo, tập huấn.
- Triên khai đề án Trung tâm nghề cá lớn của ca nước gắn với ngư trường
Vịnh Bắc bộ với các phân khu chức năng đồng bộ; xây dựng hạ tầng cơ bản của Cang cá động lực tại huyện Thủy Nguyên.
b. Giai đoạn 2021-2025
- Tốc độ tăng trương giá trị sản xuất đạt 2,5%/năm (nuôi trồng và dịch vụ giống thủy sản tăng 2,13%/năm; khai thác tăng 3,18%/năm).
- Tốc độ tăng trưởng sản lượng đạt 2,5 - 3,0%/năm. Đến năm 2025 tổng sản lượng đạt 150.000 - 160.000 tấn (khai thác chiếm 59,5%, nuôi trồng 40,5%).
- Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2025 đạt 100 triệu USD.
- Giá trị sản xuất thủy sản chiếm 43,9% trong cơ cấu tông giá trị sản xuất nhóm ngành nông nghiệp, thủy sản.
- Cơ cấu tỷ trọng giá trị khai thác - nuôi trong và dịch vụ giông trong tông giá trị sản xuất thủy sản là: 54% - 42% và 4%.
- Trên 80% số lao động nghề cá được đào tạo, tập huân.
- Hoàn thành xây dựng Cảng cá động lực và hạ tầng cơ bản của các phân khu chức năng thuộc Trung tâm nghề cá lớn của cả nước gắn với ngư trường Vịnh Bắc bộ.
c. Định hướng đến năm 2030
- Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 2,25%/năm (nuôi trồng và dịch vụ giống thủy sản tăng 2%/năm; khai thác tăng 3%/năm). Sản lượng thủy sản tăng 2,5 - 3,5%/năm.
- Kim ngạch xuất khẩu tăng 4 - 5%/năm.
- Giá trị sản xuất thủy sản chiếm 46,1% trong cơ cấu tổng giá trị sản xuất nhóm ngành nông nghiệp, thủy sản.
- Hoàn thành xây dựng Trung tâm nghề cá lớn của cả nước gắn với ngư trường Vịnh Bắc bộ; tiếp tục đầu tư, nâng cấp đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa.
III. NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP
1. Tập trung nguồn lực, xây dựng Hải Phòng trở thành Trung tâm nghề cá lớn của cả nước gắn với ngư trường Vịnh Bắc bộ a. Xây dựng cảng động lực và nâng cấp, cải tạo tổ hợp cảng cá, bến cá kết hợp với các khu neo đậu tránh trú bão
Tổ hợp gồm 14 cảng cá, bến cá đáp ứng yêu cầu hàng năm neo đậu, trao đổi hàng hóa, dịch vụ hậu cần thủy sản cho khoảng 200.000 lượt tàu khai thác thủy sản công suất đến 2.000 CV.
- Cảng cá động lực tại huyện Thủy Nguyên: là cảng trung tâm của Vịnh Bắc bộ, năng lực tiếp nhận trên 100.000 tấn hàng hóa/năm, có trên 1.000 tàu khai thác thủy sản neo đậu, tránh trú bão trong vùng nước thuộc cảng (tàu công suất lớn nhất 2.000 CV); có các phân khu đặc thù kết nối thuận lợi với các khu chức năng trong vùng hấp dẫn cua cang (bao gồm cả các tỉnh lân cận).
- Nâng cấp, cải tạo 3 cang cá loại 1: hàng năm mỗi cang tiếp nhận từ
15.000 - 25.000 tấn hàng hóa, tàu công suất đến 1.000 CV neo đậu; bố trí tại đảo Bạch Long Vĩ, Trân Châu - đảo Cát Bà và xây dựng cảng Ngọc Hải - quận Đồ Sơn (vươn ra phía biển); kết hợp có các trung tâm cứu hộ, cứu nạn trên biên cho vùng Vịnh Bắc bộ.
- Nâng cấp 4 cang cá loại 2: năm tại các huyện ven biên có nghề khai thác thủy sản xa bờ phát triên, hàng năm mỗi cang tiếp nhận khoang 10.000 tấn hàng hóa, tàu công suất đến 800 CV neo đậu.
6 44
- Nâng cấp 6 bến cá: gần ngư trường truyền thống của địa phương, neo đậu tàu cá công suất dưới 90 CV, phù hợp với tập quán của ngư dân.
b. Xây dựng, phát triển, hiện đại hóa các phân khu chức năng
- Thành lập các trung tâm canh báo thiên tai, cứu hộ, cứu nạn trên biển cấp vùng tại Cảng cá động lực và tại đảo Bạch Long Vĩ.
- Xây dựng khu phức hợp dịch vụ hậu cần nghề cá trọng điểm được đầu tư, ứng dụng công nghệ mới, thiết bị hiện đại. Nâng cấp hệ thống cơ sở chế biển hiện có; ưu tiên dành quỹ đất gần các cang cá, khu dịch vụ hậu cần nghê cá và có cơ chế hỗ trợ di dời các nhà máy chế biến thủy sản vào vùng quy hoạch phát triển chế biến nông sản; đầu tư, ứng dụng công nghệ mới, thiết bị hiện đại.
- Phát triển hệ thống sản xuất, cung ứng vật tư: ngư lưới cụ, trang thiết bị phục vụ khai thác thủy sản, nuôi trồng ứng dụng công nghệ cao, vật liệu mới trong bảo quản sản phẩm, trang thiết bị thông tin liên lạc... tại các cảng cá, khu vực nghê thủy san phát triên.
- Rà soát, nâng cấp các cơ sở đóng, sửa chữa tàu thuyền theo công nghệ mới bảo đảm các quy định về an toàn khai thác; hình thành khu sửa chữa, sản xuất ngư cụ, cơ khí đóng mới, sửa tàu thuyền ven các sông: Văn Úc, Lạch Tray, Ruột Lợn...
- Xây dựng, nâng cấp hệ thống khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão (kết hợp với các cảng cá, bến cá): đầu tư, nâng cấp, hoàn chỉnh 9 khu neo đậu tránh trú bão được phê duyệt (trong đó có 3 khu neo đậu cấp vùng) đáp ứng cho khoảng
6.000 tàu thuyền vào neo đậu tránh bão, cỡ tàu lớn nhất đến 2.000 CV.
- Tranh thủ sự quan tâm của Trung ương, xây dựng Trung tâm Kiêm ngư Việt Nam, Trung tâm Đăng kiểm vùng và Trung tâm Chất lượng nông, lâm, thủy sản Vùng I... Xây dựng hệ thống đăng kiểm, quản lý tàu cá, kiểm soát chất lượng sản phẩm thủy sản tại các cảng cá, bến cá.
c. Xây dựng các cơ sở chuyên ngành thủy sản
- Cơ sở đào tạo: xây dựng, phát triển, liên kết đào tạo nguồn nhân lực cho các lĩnh vực thủy sản trong vùng (Trung ương thành lập Học viện Thuy sản).
- Hệ thống nghiên cứu: đề nghị Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quan tâm, nâng cấp hệ thống cơ sở nghiên cứu, chuyên giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực thủy sản, đáp ứng yêu cầu tiếp nhận và chuyên giao công nghệ tiên tiến trong nuôi trồng, khai thác và chế biến thủy sản: Viện Nghiên cứu Hải sản (Trung tâm Quan trắc cảnh báo môi trường và dịch bệnh, Trung tâm Dự báo ngư trường, Trung tâm Chuyển giao công nghệ...), Viện Nuôi trồng thủy sản I (Trung tâm Quốc gia giống hai sản Miền Bắc).
7 45
- Các hoạt động tài chính: liên kết với hệ thống ngân hàng bố trí điểm dịch vụ tài chính, tín dụng tại các cảng cá, bến cá và trong vùng hấp dẫn của các khu chức năng đặc thù; hình thành các khu phi thuế quan... tạo điều kiện thuận lợi trong hoạt động kinh doanh, dịch vụ nghề cá.
d. Xây dựng đồng bộ các chức năng phụ trợ khác
- Hình thành Trung tâm lịch sử nghề cá, gắn với Ngày truyền thống Ngành Thủy sản Việt Nam, ngày Bác Hồ về thăm Làng cá trên đảo Cát Bà.
- Khu vực tâm linh nghề biển, các điểm tâm linh phù hợp thuần phong mỹ tục tại cảng cá, bến cá, kết hợp hoạt động văn hóa, thể thao liên quan đến nghề cá (đua thuyền, bơi lội...), hoạt động giải trí và sinh hoạt cộng đồng ngư dân.
2. Phát triển sản xuất thủy sản hàng hoá theo chuỗi giá trị gia tăng, tăng nhanh tỷ trọng khu vực sản xuất ứng dụng công nghệ cao a. Phát triển sản xuất nuôi trồng thủy sản
- Phát triển nuôi trồng theo quy hoạch, tổng diện tích đến năm 2020 là 8.700 ha, giữ ổn định đến năm 2030; trong đó nuôi nước ngọt 5.000 ha, nuôi nước mặn, lợ 3.700 ha.
- Nuôi trồng theo GAP, hình thành các vùng nuôi trồng tập trung các sản phẩm chủ lực có giá trị kinh tế, áp dụng công nghệ tiên tiến, ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm an toàn thực phẩm, nhằm nâng cao năng suất, giá trị trên đơn vị diện tích sản xuất. Diện tích nuôi thâm canh công nghiệp khoảng 3.000 ha, chiếm 30 - 35% tổng diện tích nuôi; trong đó có 1 khu và 11 vùng nuôi ứng dụng công nghệ cao, diện tích 2.340 ha.
- Về sản xuất giống thủy sản: Đầu tư nâng cao năng lực các cơ sở sản xuất, chọn tạo và quản lý giống, bảo đảm 100% nhu cầu giống nuôi sạch bệnh (tôm nước lợ, cá rô phi, cá hồng, cua biển...). Hàng năm, san lượng giống nước ngọt 1.000 triệu con, sản lượng giống nước mặn, lợ 500 triệu con, phục vụ sản xuất của thành phố và cung cấp cho các tỉnh.
b. Phát triển sản xuất khai thác thủy sản
- Phát triển đội tàu khai thác thủy sản xa bờ với trang thiết bị tiên tiến:
Năm 2020 có 750 tàu đánh cá xa bờ (150 tàu công suất trên 400 CV, chiếm 20%); năm 2025 có 900 tàu (250 tàu công suất trên 400 CV, chiếm 27,8%), đến năm 2030 có 1.000 tàu (350 tàu công suất trên 400 CV, chiếm 35%).
- Cơ cấu nghề khai thác theo các họ nghề chính: Chụp mực 22%, lưới rê
30%, lưới kéo 10%, nghề câu 5% và nghề khác. Tăng sản lượng khai thác vùng biên xa bờ (khoảng 65% tông sản lượng khai thác), giảm tổn thất sau thu hoạch (xuống dưới 20%) và bao đảm an toàn trên biển, gắn với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo.
8 46
- Tổ chức sản xuất trên biển theo mô hình nghiệp đoàn, tập đoàn, liên tập đoàn, tổ/đội đoàn kết sản xuất và mô hình đồng quản lý đối với vùng ven bờ. Hình thành doanh nghiệp đầu tư đội tàu khai thác vùng biên xa bờ. Áp dụng phương pháp đánh bắt tiên tiến, trang thiết bị hiện đại để đánh bắt có chọn lọc các đối tượng có giá trị kinh tế, kết hợp bảo vệ nguồn lợi thủy sản.
c. Chế biến thủy sản
- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư các cơ sở chế biến và xuất khâu đạt tiêu chuẩn, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; nâng cao chất lượng, đa dạng sản phẩm chế biến đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa và xuất khẩu.
- Từng bước hình thành chuỗi giá trị, liên kết sản xuất từ nuôi trồng, khai thác đến chế biến sản phẩm, nâng cao giá trị gia tăng sản phẩm; quan tâm chế biến đáp ứng thị trường trong nước.
- Ứng dụng phát triển công nghệ chế biến xuất khẩu theo chiều sâu, đổi mới dây chuyền, thiết bị, công nghệ chế biến tiên tiến, hiện đại, cải tiến mẫu mã, bao bì... đáp ứng yêu cầu của thị trường trong nước và xuất khẩu.
d. Dịch vụ hậu cần thủy sản: Hình thành hệ thống sản xuất thức ăn thủy sản nuôi, chế phẩm sinh học, giống thủy sản cung cấp cho các tỉnh khu vực phía Bắc; xây dựng hệ thống quan trắc, cảnh báo môi trường vùng nuôi trồng thủy sản tập trung; nâng cấp các cơ sở sản xuất nước đá; xây dựng hệ thống kho lạnh tại các cảng cá, bến cá tạo điều kiện cho việc lưu trữ, vận chuyên và trao đổi thương mại thủy sản của các tỉnh, thành phố phía Bắc.
e. Thương mại, xuất khẩu thủy sản
- Quy hoạch các chợ chuyên thủy sản và hệ thống chợ phân phối thủy sản tại Cảng cá động lực, Cảng cá Bạch Long Vĩ, Cảng cá Trân Châu, Chợ Cầu Vồng (Đồ Sơn), chợ Máy Chai (Ngô Quyền), chợ cá Xâm Bồ (Hải An), chợ Đồn Riêng (Dương Kinh)...
- Xác định sản phẩm chủ lực, sản phẩm đưa ra thị trường đáp ứng tiêu chuẩn, tiêu chí quốc gia, quốc tế.
- Hình thành điểm tập kết, bảo quản sản phẩm tại các vùng sản xuất tập trung; sàn giao dịch sản phẩm (trực tiếp hoặc qua mạng Internet) tại chợ thủy sản, các trung tâm thương mại; các kênh phân phối, hệ thống thương mại thủy sản ở các siêu thị, khu công nghiệp và các cửa hàng bán lẻ tại khu đông dân cư.
- Bảo đảm mục tiêu từ sản xuất đến tiêu dùng thực hiện khép kín: sản xuất theo GAP - thu hoạch, bảo quản, chế biến an toàn thực phẩm - chợ chuyên thủy sản - cơ sở phân phối - điểm bán lẻ, sản phẩm truy xuất được nguồn gốc.
- Xây dựng thương hiệu và tiêu chuẩn chất lượng cho một số sản phẩm thủy sản chủ lực phục vụ xuất khẩu, tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại mở rộng thị trường nội địa, củng cố và phát triển mở rộng thị trường ngoài nước.
3. Tăng cường hợp tác lĩnh vực thủy sản
- Xây dựng Kế hoạch hợp tác phát triển kinh tế thủy sản gắn với ngư trường Vịnh Bắc bộ giữa Hai Phòng với các tỉnh ven biển phía Bắc. Xây dựng cơ chế chia sẻ, cung cấp thông tin từ hệ thống đến từng tỉnh, từng tác nhân và các bên liên quan tham gia, chia sẻ lợi ích theo chuỗi giá trị. Liên kết, phối hợp trong xúc tiến thương mại, xây dựng thương hiệu, chỉ dẫn địa lý đối với từng đối tượng, sản phẩm thủy sản giữa các tỉnh trong khu vực phía Bắc.
- Hợp tác với các Viện nghiên cứu, các Trường đại học để hỗ trợ nghiên cứu, đánh giá, dự báo ngư trường thủy sản; chuyên giao các đối tượng và công nghệ nuôi phù hợp; chú trọng đào tạo bô sung nguồn nhân lực trình độ đại học cho một số lĩnh vực, như: khai thác hai sản, cơ khí thủy sản, kiểm ngư...
- Tăng cường tiếp nhận công nghệ sản xuất thủy sản tiên tiến từ các nước trong khu vực ASEAN và các nước có trình độ phát triển cao về thủy sản, trọng tâm là các lĩnh vực: sản xuất giống, sản xuất thức ăn công nghiệp, chế phâm sinh học, thuốc thú y thủy sản, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghệ chế biến các sản phẩm cao cấp, sản phẩm ăn liền, sản xuất dược phẩm, thực phẩm chức năng có nguồn gốc từ thủy sản.
4. Thu hút đầu tư, huy động nguồn lực để phát triển kinh tế thủy sản a. Thu hút đầu tư, nhất là đầu tư theo hình thức hợp tác công tư (PPP) vào các cảng cá, trung tâm dịch vụ hậu cần thủy sản
- Khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư vào lĩnh vực thủy sản; phát triển các hình thức đầu tư có sự tham gia giữa Nhà nước và tư nhân (hợp tác công tư -PPP) để huy động nguồn lực xã hội cho phát triên thủy sản và nâng cao hiệu qua sử dụng vốn đầu tư công.
- Nội dung các hoạt động PPP: xúc tiến đầu tư để hình thành Trung tâm nghề cá lớn; đầu tư nuôi trông thủy sản ứng dụng công nghệ cao; đầu tư hạ tầng cảng cá, bên cá; hỗ trợ chứng nhận đạt tiêu chuẩn GAP, ASC, MSC, CoC; mở rộng thị trường, xây dựng hình ảnh các sản phẩm thuy sản Hai Phòng.
- Thực hiện các chính sách khuyến khích, ưu đãi về thuế, tiền thuê đất, mặt nước; hỗ trợ lãi suất vay vốn đê đầu tư xây dựng hạ tầng cảng cá, bến cá, khu, vùng nuôi trông thuy sản tập trung, ứng dụng công nghệ cao phù hợp quy định của pháp luật, cam kết quốc tế.
b. Huy động nguồn lực đầu tư phát triển kinh tế thủy sản
10 48
- Ưu tiên bố trí nguồn vốn đầu tư từ ngân sách cho xây dựng, nâng cấp cơ sở hạ tầng thiết yếu dùng chung của các cơ sở sản xuất giống và vùng nuôi trồng thủy sản tập trung, ứng dụng công nghệ cao, gắn với các đối tượng nuôi chủ lực; các cảng cá, bến cá, khu dịch vụ hậu cần và khu neo đậu tránh trú bão.
- Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn Trung ương, ngân sách địa phương (các cấp) hỗ trợ phát triển kinh tế thủy sản. Dành nguồn lực đầu tư từ Chương trình Xây dựng nông thôn mới đê lông ghép phát triển sản xuất thủy sản. Triển khai đồng bộ các chính sách hỗ trợ phát triển thủy sản đã được ban hành.
- Tạo điều kiện để các doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi; chuyển hướng từ ngân sách hỗ trợ trực tiếp cho người sản xuất sang hỗ trợ lãi suất tín dụng.
c. Tập trung đầu tư xây dựng hạ tầng, nhất là hệ thống thủy lợi các khu, vùng nuôi trông thủy sản tập trung.
5. Về khoa học, công nghệ
- Nghiên cứu, ứng dụng, chuyên giao công nghệ sản xuất giống thủy sản (trọng tâm là giống thủy sản nuôi nước mặn, lợ), áp dụng công nghệ sinh học...
- Ứng dụng công nghệ bao quản sản phẩm sau thu hoạch tiên tiến; áp dụng các công nghệ số, viễn thám, sử dụng vệ tinh để theo dõi, quản lý nguồn lợi hải sản và đội tàu khai thác hải sản.
- Áp dụng các tiến bộ về công nghệ tiên tiến trong quản lý và hiện đại hóa ngành thủy sản.
6. Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền; nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý nhà nước về thủy sản
- Các cấp uy Đảng, chính quyên, đoàn thê, tôổ chức xã hội đây mạnh tuyên truyền về ý thức bảo vệ nguồn lợi thủy san, giữ gìn môi trường và cảnh quan; có giải pháp, kế hoạch cụ thê khai thác những tiềm năng, thể mạnh của địa phương phát triển kinh tế thủy san.
- Nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước chuyên ngành thủy sản từ thành phố đến địa phương, tiến tới các xã, phường trọng điêm thủy sản có 1 cán bộ thủy sản chuyên trách được đào tạo chuyên ngành. Khuyến khích, thu hút cán bộ được đào tạo chuyên ngành thủy sản làm việc tại các địa bàn trọng điêm nghề cá.
- Phân cấp cho chính quyền các địa phương công tác quản lý tàu cá nhỏ và bảo vệ nguồn lợi thuy san ven bờ; tô chức phối hợp chặt chẽ, đồng bộ hoạt động của các cơ quan có liên quan thực hiện công tác quản lý và công tác thanh
tra, kiểm tra trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh thủy sản.
- Xây dựng, rà soát điều chỉnh các quy hoạch: Quy hoạch bảo vệ và khai thác nguồn lợi thủy sản, quy hoạch hệ thống cảng cá, khu neo đậu tránh trú bão cho tàu cá...
- Tăng mức đầu tư mua sắm, trang bị trang thiết bị hiện đại phục vụ quản lý: dự báo ngư trường, theo dõi tàu thuyền, cảnh báo thiên tai, tìm kiếm cứu nạn, kiểm tra, giám sát an toàn thực phẩm...
- Xây dựng, bổ sung cơ chế, chính sách: hỗ trợ đầu tư hạ tầng vùng nuôi trồng thủy sản tập trung; chuyển đổi cơ cấu nghề khai thác, phát triển đội tàu xa bờ gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo; chuyển đổi diện tích đất nông nghiệp kém hiệu quả sang nuôi trồng thủy sản; chính sách bảo hiểm, hỗ trợ thiệt hại do xảy ra dịch bệnh, thiên tai; khuyến khích liên kết sản xuất, chế biến, thương mại thủy sản theo chuỗi giá trị; đào tạo và thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao.
- Xây dựng chính sách thu hút đầu tư; cơ chế quản lý, vận hành Trung tâm nghề cá lớn gắn với ngư trường Vịnh Bắc bộ bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả giữa Hải Phòng với các tỉnh liên quan.
- Ưu tiên đào tạo nghề lao động thủy sản theo các chương trình đào tạo nghề nông thôn; khuyến khích con em ngư dân theo học lĩnh vực thủy sản.
- Phân công rõ trách nhiệm quản lý giữa các cơ quan chức năng trong việc chỉ đạo, giám sát thực thi pháp luật các hoạt động bảo vệ môi trường và trong việc bảo vệ nguồn lợi thủy sản; xử lý nghiêm các hành vi vi phạm.
- Tăng cường công tác bảo đảm an ninh, trật tự cho các hoạt động phát triển kinh tế thủy sản; chú trọng nâng cao hiệu quả việc thực hiện Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 12/7/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án "Bảo đảm trật tự trị an, an toàn cho nhân dân và các hoạt động kinh tế trên biển, đảo".
IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN
1- Đảng đoàn Hội đồng nhân dân thành phố, Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố cụ thể hóa bằng các chương trình, đề án,... thực hiện Nghị quyết, phân công trách nhiệm cụ thể cho các cấp, ngành, đơn vị thực hiện. Định kỳ hàng năm tiến hành kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện.
2- Các cấp ủy đảng trên cơ sở phạm vi nhiệm vụ được giao xây dựng kế hoạch hành động triển khai thực hiện phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương, đơn vị mình.
3- Các sơ, ngành, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thê chính trị- xã
12 50 hội thành phố tổ chức quán triệt, tuyên truyền, triển khai trong hệ thống đơn vị mình và giám sát thực hiện Nghị quyết.
4- Giao Văn phòng Thành ủy, các ban của Thành ủy giúp Ban Thường vụ Thành ủy theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết, định kỳ báo cáo kết quả thực hiện và đề xuất bổ khuyết để Ban Thường vụ Thành ủy kịp thời chỉ đạo./. t
T/M BAN THƯỜNG VỤ
|
Nơi nhận:
- Ban Bí thư Trung ương Đảng,
- VPTW. UB KTTW, BTGTW, BKTTW.
- Các đồng chí Ủy viên Thành ủy,
- Các đảng bộ trực thuộc Thành ủy,
- Ban cán sự đảng, đảng đoàn.
- Các ban, cơ quan Thành ủy,
- Các sở. ngành và đoàn thể thành phố.
- Lưu Văn phòng Thành ủy.
|
BÍ THƯ
Lê Văn Thành
|