Quay lại

Nghị quyết số 38/NQ-HĐND về chất vấn tại Kỳ họp thứ hai, Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH LONG
-------

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
---------------

Số: 38/NQ-HĐND

Vĩnh Long, ngày 15 tháng 7 năm 2026

NGHỊ QUYẾT

VỀ CHẤT VẤN TẠI KỲ HỌP THỨ HAI, HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH KHÓA XI, NHIỆM KỲ 2026 - 2031

HỘI ĐỒNG NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
KHÓA XI, KỲ HỌP THỨ HAI

Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 16 tháng 6 năm 2025;

Căn cứ Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân ngày 10 tháng 12 năm 2025;

Căn cứ Nghị quyết số 114/2025/UBTVQH15 ngày 24 tháng 12 năm 2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân về hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân;

Căn cứ kết quả chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ Hai, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031.

QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Đánh giá kết quả thực hiện, hạn chế bất cập và nguyên nhân

Hội đồng nhân dân tỉnh thống nhất đánh giá sau 0,5 ngày làm việc nghiêm túc, trách nhiệm, với tinh thần đổi mới, đồng hành cùng Ủy ban nhân dân tỉnh, phát huy tốt trách nhiệm giải trình của Ủy ban nhân dân tỉnh và các cơ quan chuyên môn cấp tỉnh, phiên chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ Hai, Hội đồng nhân dân tỉnh khóa XI đã thành công tốt đẹp, thu hút sự quan tâm và đáp ứng được sự kỳ vọng của đồng bào cử tri, Nhân dân trong tỉnh. Hội đồng nhân dân tỉnh ghi nhận những nỗ lực lớn, quyết tâm cao của Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, lãnh đạo các sở, ban, ngành tỉnh trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ trên các lĩnh vực, đạt nhiều kết quả tích cực, tạo nên tầng, động lực cho việc hoàn thành thắng lợi các chỉ tiêu, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh nhà. Hội đồng nhân dân tỉnh cơ bản tán thành với các giải pháp, cam kết mà Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và người đứng đầu các sở, ngành có liên quan đã báo cáo và cung cấp thêm thông tin và thể hiện sự cam kết mạnh mẽ trách nhiệm cá nhân và của ngành tại phiên chất vấn.

Qua xem xét các báo cáo trả lời chất vấn cho thấy, mặc dù Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự tỉnh các sở, ngành và địa phương đã tích cực triển khai nhiều giải pháp, song một số tồn tại, hạn chế vẫn chưa được khắc phục triệt để, cần tiếp tục theo dõi và chỉ đạo, ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà nước và đời sống của Nhân dân, cụ thể: Công tác quản lý, điều hành ở một số lĩnh vực chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; tiến độ thực hiện 02 Khu công nghiệp: Đông Bình, Gilimex Vĩnh Long còn chậm, ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi của người dân trong vùng quy hoạch và thu hút đầu tư; số lượng di tích xuống cấp còn nhiều, việc tu bổ, tôn tạo và phát huy giá trị di tích gắn với phát triển du lịch chưa đáp ứng yêu cầu; tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt tại một số địa bàn chưa được xử lý dứt điểm, nhiều bãi rác quá tải, trong khi tiến độ xây dựng các nhà máy xử lý rác còn chậm; công tác thi hành án dân sự vẫn còn hạn chế, nhiều vụ việc có điều kiện nhưng chưa được tổ chức thi hành dứt điểm, kéo dài.

Những hạn chế trên xuất phát từ nhiệm vụ phát sinh nhiều sau sắp xếp đơn vị hành chính, lúng túng trong quá trình phối hợp thực hiện; nguồn lực đầu tư công còn hạn chế, kêu gọi thu hút đầu tư còn ít, bộ máy cấp cơ sở bước đầu còn khó khăn trong tiếp nhận và tổ chức thực hiện nhiệm vụ từ cấp huyện, cấp tỉnh chuyển về, nhân lực chuyên môn còn thiếu, nhất là cơ quan thi hành án; công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng còn nhiều vướng mắc, chi phí đầu tư tăng cao; nhiều vụ việc thi hành án có tính chất phức tạp, tài sản khó xử lý hoặc chưa đủ điều kiện thi hành. Bên cạnh đó, một số cơ quan, đơn vị còn chậm trong tham mưu, phối hợp, tổ chức thực hiện; công tác đôn đốc, kiểm tra chưa thường xuyên; việc dự báo và chủ động tháo gỡ khó khăn chưa kịp thời; trách nhiệm của một số địa phương, đơn vị và người đứng đầu trong tổ chức thực hiện chưa thật sự quyết liệt.

Vì vậy, cần có giải pháp tạo bức phá mạnh mẽ thời gian tới để các lĩnh vực hạn chế, yếu kém có sự chuyển biến tích cực hơn, đáp ứng kỳ vọng của cử tri và Nhân dân tỉnh nhà.

Điều 2. Giải pháp khắc phục hạn chế, bất cập

Hội đồng nhân dân tỉnh đề nghị Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch triển khai thực hiện nghiêm túc, đầy đủ, có hiệu quả các giải pháp đã cam kết với Hội đồng nhân dân tỉnh và cử tri. Hội đồng nhân dân tỉnh yêu cầu Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, lãnh đạo các sở, ngành và Thủ trưởng các cơ quan liên quan tập trung xây dựng kế hoạch và lộ trình khắc phục tồn tại, hạn chế, nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong phát triển kinh tế - xã hội nói chung và các lĩnh vực được chất vấn tại kỳ họp, cụ thể như sau:

1. Về bảo tồn, phát huy giá trị các di tích gắn với phát triển du lịch trên địa bàn tỉnh

a) Rà soát hoàn thiện lại hồ sơ, thủ tục để tiếp tục đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận đối với các di tích đủ điều kiện theo quy định của pháp luật.

b) Tích cực triển khai số hoá, xây dựng được bản đồ số các di tích phục vụ công tác quản lý, tra cứu, truy cập khai thác và theo dõi các di tích lịch sử trên địa bàn thuận lợi, sát thực tế.

c) Đẩy mạnh việc quản lý, khai thác các di tích gắn với các tour, tuyến phục vụ phát triển du lịch ở địa phương; theo đó, cần quan tâm kiện toàn, đào tạo bồi dưỡng, trải nghiệm thực tế cho đội ngũ làm công tác quản lý di tích, đội ngũ hướng dẫn viên du lịch có năng lực, kỹ năng tuyên truyền, quảng bá, phát huy giá trị truyền thống của các di tích đến với người dân trong và ngoài nước.

d) Tập trung hoàn thiện Đề án bảo tồn, tu bổ, tôn tạo hệ thống di tích trên địa bàn tỉnh, trên cơ sở nghiên cứu lịch sử văn hóa, giữ gìn và tôn tạo bản sắc, giữ nguyên hiện vật, kết cấu, kiến trúc gốc có giá trị lịch sử cao, bên cạnh đó quan tâm sưu tầm các hiện vật có giá trị và phù hợp với giai đoạn lịch sử; bố trí ngân sách đầu tư tôn tạo song song với đề xuất chính sách kêu gọi đầu tư.

đ) Đưa các chương trình tìm hiểu di tích, di sản của tỉnh vào các hoạt động ngoại khoá của ngành giáo dục; phối hợp với các tỉnh, thành, các viện, trường đại học tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên đến trải nghiệm, học tập.

e) Vận động người dân cùng tham gia, nâng cao ý thức bảo vệ di tích và thụ hưởng các giá trị văn hóa, để các di tích thực sự là tài sản chung của cộng đồng.

g) Đẩy mạnh phát triển các sản phẩm, quà tặng du lịch phù hợp với đặc điểm văn hóa, phong tục, tập quán và bản sắc của di tích phục vụ khách du lịch, bảo tồn các làng nghề truyền thống gắn giải quyết việc làm, tạo thu nhập cho người dân.

2. Vấn đề ô nhiễm môi trường do rác thải sinh hoạt, chất thải từ các cơ sở sản xuất, khu công nghiệp

a) Đẩy mạnh tuyên truyền việc phân loại chất thải rắn sinh hoạt tại nguồn; tuyên truyền, hướng dẫn hộ gia đình, cá nhân, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực hiện phân loại, tái sử dụng, tái chế chất thải, rác thải.

b) Ban hành đơn giá thu gom rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh, đảm bảo phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương.

c) Sở Nông nghiệp và Môi trường hướng dẫn cụ thể cho Ủy ban nhân dân cấp xã về trình tự xây dựng phương án, lập dự toán, lựa chọn nhà thầu, ký kết hợp đồng, nghiệm thu, thanh toán và quyết toán kinh phí thu gom, vận chuyển, xử lý rác; phân bổ kinh phí cho địa phương thực hiện thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn, rác thải sinh hoạt; tổ chức tập huấn, nâng cao năng lực chuyên môn cho cán bộ cấp xã trực tiếp tham mưu công tác quản lý chất thải, rác thải.

d) Sở Nông nghiệp và Môi trường phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã, phường khẩn trương hoàn thành việc lập, phê duyệt đề án thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt; lựa chọn và ký hợp đồng với đơn vị thu gom, vận chuyển rác theo quy định để triển khai, đảm bảo rác thải không ùn ứ gây ô nhiễm môi trường.

đ) Tăng cường giám sát, kiểm tra việc thực hiện của các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp theo quy định; kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi xả thải, hoặc xử lý chất thải không đúng quy định.

e) Nghiên cứu đề xuất thí điểm thực hiện mô hình khu công nghiệp sinh thái cộng sinh, khu công nghiệp xanh sạch, sản xuất tuần hoàn; ban hành chính sách khuyến khích nhà đầu tư và xem xét cân đối ngân sách hỗ trợ thực hiện thí điểm mô hình này.

3. Công tác tổ chức thi hành án dân sự đối với những vụ việc có điều kiện thi hành nhưng chưa được thi hành

a) Tập trung phân loại án, hồ sơ có điều kiện thi hành, chưa có điều kiện thi hành để có kế hoạch, phương án tổ chức thi hành đối với từng loại hồ sơ, vụ việc nhằm giảm tỷ lệ án chưa thi hành trong thời gian qua.

b) Đẩy mạnh công tác phối hợp, tiến hành xác minh điều kiện thi hành án để thu thập thông tin, dữ liệu đảm bảo thực hiện tốt công tác thi hành án dân sự.

c) Thi hành án dân sự tỉnh chủ trì, tham mưu Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự tỉnh chỉ đạo phối hợp chặt chẽ các ngành, các cấp tại địa phương tập trung tuyên truyền, vận động, khuyến khích người dân tự thỏa thuận thi hành án để giảm số án phải cưỡng chế thi hành. Đồng thời, cương quyết cưỡng chế thi hành đối với các trường hợp không tự nguyện thi hành án, có dấu hiệu trì hoãn, tẩu tán tài sản.

d) Chủ động phối hợp với các cơ quan, đơn vị, chính quyền địa phương nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo thi hành án dân sự, đồng thời, thực hiện tốt các Quy chế phối hợp có liên quan để nâng cao hiệu quả công tác thi hành án dân sự.

đ) Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện công tác thi hành án dân sự, trong đó, chú trọng hoạt động giám sát của Hội đồng nhân dân, kiểm sát của Viện Kiểm sát nhân dân theo thẩm quyền.

e) Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thi hành án dân sự, trong đó chú trọng liên thông, kết nối dữ liệu để phục vụ tốt hơn cho công tác thi hành án dân sự.

g) Nâng cao trách nhiệm của chấp hành viên trong thực hiện nhiệm vụ thi hành án; bên cạnh đó kiện toàn tổ chức bộ máy bên trong cơ quan thi hành án.

4. Vấn đề triển khai thực hiện các dự án Khu công nghiệp Đông Bình và Khu công nghiệp Gilimex Vĩnh Long

a) Đẩy nhanh tiến độ thi công 02 khu tái định cư Khu công nghiệp Đông Bình và Khu công nghiệp Gilimex Vĩnh Long trong năm 2026, để tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư triển khai các bước tiếp theo trong xây dựng hạ tầng khu công nghiệp, nhất là công tác bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo quy định.

b) Chỉ đạo rà soát phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư để thực hiện đúng tiến độ theo cam kết nhà đầu tư và đúng theo quy định của pháp luật. Hoàn thành trong năm 2026.

c) Chỉ đạo các cơ quan có liên quan phối hợp với nhà đầu tư rà soát lại tiến độ thực hiện dự án; cập nhật phương án tài chính, chuẩn bị đầy đủ nguồn lực để triển khai ngay khi địa phương bàn giao mặt bằng.
Trường hợp sau khi hoàn thành 2 khu tái định cư mà nhà đầu tư không tiếp tục thực hiện các bước tiếp theo, thực hiện không đúng cam kết thì kiên quyết trình cấp có thẩm quyền quyết định thu hồi dự án để chọn nhà đầu tư có đủ năng lực.

d) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân phường Đông Thành, Ủy ban nhân dân xã Tân Quới phối hợp chặt chẽ với các sở, ban, ngành tỉnh và nhà đầu tư trong công tác tuyên truyền, vận động người dân, tổ chức thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đúng quy định, bảo đảm công khai, minh bạch, hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người dân.

đ) Trình cấp có thẩm quyền bố trí vốn đầu tư nâng cấp hệ thống giao thông kết nối, đặc biệt là Quốc lộ 54; đồng thời chỉ đạo các cơ quan liên quan để tháo gỡ khó khăn về nguồn vật liệu san lấp, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai dự án.

Điều 3. Trách nhiệm thi hành và báo cáo kết quả thực hiện

1. Giao Ủy ban nhân dân tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Thủ trưởng các sở, ban, ngành tỉnh và Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các xã, phường trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, có trách nhiệm thực hiện Nghị quyết. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, Trưởng Ban Chỉ đạo Thi hành án dân sự tỉnh, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường, Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết và báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh về việc thực hiện Nghị quyết tại các kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân tỉnh cho đến khi khắc phục xong các hạn chế, bất cập.

2. Giao Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

3. Đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Vĩnh Long phối hợp với Thường trực Hội đồng nhân dân, các Ban của Hội đồng nhân dân, Tổ đại biểu Hội đồng nhân dân và đại biểu Hội đồng nhân dân tỉnh giám sát việc thực hiện Nghị quyết.
Nghị quyết này đã được Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long Khóa XI, Kỳ họp thứ Hai thông qua ngày 15 tháng 7 năm 2026 và có hiệu lực kể từ ngày thông qua./.


Nơi nhận:


- Ủy ban Thường vụ Quốc hội;
- Chính phủ;
- Ủy ban Công tác đại biểu;
- Tỉnh ủy, HĐND, UBND, UBMTTQ tỉnh;
- Đoàn ĐBQH tỉnh Vĩnh Long;
- Đại biểu HĐND tỉnh;
- Ban Tuyên giáo và Dân vận Tỉnh ủy;
- Văn phòng: Tỉnh ủy, Đoàn ĐBQH&HĐND, UBND tỉnh;
- Các sở, ban, ngành, đoàn thể tỉnh;
- HĐND, UBND, UBMTTQVN các xã, phường;
- Trung tâm Thông tin điện ảnh;
- Báo và phát thanh, truyền hình Vĩnh Long;
- Lưu: VT.

CHỦ TỊCH




Nguyễn Minh Dũng

Tổng quan văn bản

Số ký hiệu38/NQ-HĐND
Ngày ban hành15/07/2026
Loại văn bảnNghị quyết
Ngày có hiệu lực15/07/2026
Nguồn thu thậpCơ sở dữ liệu
Ngày đăng công báo---
Cơ quan ban hành / Người kýHĐND tỉnh Vĩnh Long / Nguyễn Minh Dũng
Phạm viVĩnh Long
Trích yếuVề chất vấn tại Kỳ họp thứ hai, Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Long khóa XI, nhiệm kỳ 2026-2031
Tình trạng hiệu lựcCòn hiệu lực

Chưa có thông tin lược đồ

Văn bản này hiện chưa được cập nhật dữ liệu về lược đồ liên quan.