|
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Số: 3507 /QĐ-UBND
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Hải Phòng, ngày 21 tháng 12 năm 2017
|
Về việc phê duyệt Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng thành phố Hải Phòng giai đoạn 2018-2020
ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Căn cứ Luật Tổ chức chính quyền địa phương ngày 19/6/2015;
Căn cứ Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 03/12/2004;
Căn cứ Luật Phòng cháy và chữa cháy ngày 29/6/2001;
Căn cứ Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ về
Quy định về phòng cháy và chữa cháy rừng;
Căn cứ Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;
Căn cứ Chỉ thị số 10/CT-TTg ngày 30/3/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng;
Căn cứ Quyết định số 197/2005/QĐ-BNN-KL ngày 27/01/2005 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn ban hành hướng dẫn xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng cấp tỉnh;
Theo đề nghị của Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tại Văn bản số 2541/SNN-KL ngày 16/11/2017,
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1. Phê duyệt Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng thành phố Hải
Phòng giai đoạn 2018 - 2020 với những nội dung chủ yếu sau:
1. Tên phương án: Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng thành phố Hải
Phòng giai đoạn 2018 - 2020.
2. Đơn vị xây dựng phương án: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
3. Mục tiêu của phương án:
3.1. Mục tiêu chung:
Nâng cao khả năng kiểm soát cháy rừng và hiệu quả của công tác phòng cháy, chữa cháy rừng, giảm thiểu số vụ cháy và thiệt hại do cháy rừng gây ra.
3.2. Mục tiêu cụ thể:
- Nâng cao năng lực chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng và xử lý các tình huống khi xảy ra cháy rừng.
- Quy định nhiệm vụ cụ thể của các tổ chức, chủ rừng và cá nhân trong chữa cháy rừng.
- Tuyên truyền, nâng cao nhận thức, kiến thức về công tác phòng cháy chữa cháy rừng của nhân dân trên địa bàn.
- Xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực cho lực lượng chuyên ngành phòng cháy chữa cháy rừng, các tổ, đội bảo vệ rừng - phòng cháy chữa cháy rừng ở cơ sở, chủ rừng.
- Xây dựng và đưa vào hoạt động có hiệu quả hệ thống thông tin cảnh báo cháy rừng trên địa bàn.
3.3. Nguyên tắc và phương châm:
Nguyên tắc "phòng cháy là chính, chữa cháy phải kịp thời, triệt để" với phương châm "4 tại chỗ" (lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ).
4. Phạm vi thực hiện phương án: Trên địa bàn các quận, huyện có rừng thành phố Hải Phòng.
5. Thời gian thực hiện: Từ năm 2018 đến 2020.
6. Nguồn kinh phí thực hiện phương án:
- Kinh phí sự nghiệp kinh tế được bố trí hàng năm cho Chi cục Kiểm lâm.
- Kinh phí của các chủ rừng (Ban Quản lý rừng đặc dụng, phòng hộ) đầu tư cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Kinh phí từ nguồn sự nghiệp bảo vệ rừng của các quận, huyện.
- Kinh phí từ Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng phục vụ cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng.
Điều 2. Giao Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các cơ quan, địa phương, đơn vị liên quan tổ chức quán triệt, hướng dẫn và triển khai thực hiện.
Điều 3. Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân thành phố, Giám đốc các Sở, ngành: Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Tài nguyên và Môi trường, Công an thành phố, Bộ Chỉ huy quân sự thành phố, Bộ Chỉ huy bộ đội biên phòng Hải Phòng, Cánh sát Phòng cháy và Chữa cháy thành phố, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các quận, huyện, Chi/Cục trưởng Chi cục Kiểm lâm,
Thủ trưởng các ngành, đơn vị liên quan chịu trách nhiệm thi hành Quyết định này.
Điều 3. PHƯƠNG ÁN PHÒNG CHÁY, CHỮA CHÁY RỪNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG GIAI ĐOẠN 2018-2020
(Ban hành kèm theo Quyết định số3507/QĐ-UBND ngày21 tháng12năm 2017 của UBND thành phố Hải Phòng)
ĐẶT VẤN ĐỀ
Hải Phòng có diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo quy hoạch lâm nghiệp là
28.784,62 ha. Rừng ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp là 407,69 ha. Độ che phủ của rừng đạt 8,5%. Các diện tích rừng chủ yếu có diện tích nhỏ, đan xen trong khu dân cư, các khu công nghiệp, dịch vụ, khu vực quân sự, quốc phòng. Các loài cây rừng chủ yếu là Thông, Keo, Bạch đàn, đây là các loại cây có khả năng cháy rất cao do chứa hàm lượng nhựa lớn và thường rụng lá khô vào các tháng hanh khô, tạo thảm thực bì dễ bắt lửa.
Một trong những nhiệm vụ quan trọng thực hiện Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng giai đoạn 2017-2020 thành phố Hải Phòng là thực hiện tốt nhiệm vụ phòng cháy chữa cháy rừng. Thành phố được dự báo là một trong những địa phương chịu nhiều ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu, do vậy công tác bảo vệ và phát triển rừng là một giải pháp hữu hiệu đang được quan tâm góp phần ứng phó các hiện tượng thời tiết cực đoan do biến đổi khí hậu gây ra.
Xây dựng Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng nhằm nâng cao năng lực, khả năng dự báo về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng; tổ chức đào tạo, xây dựng lực lượng phòng cháy, chữa cháy rừng chuyên trách; đầu tư có hiệu quả các trang thiết bị và phương tiện phòng cháy, chữa cháy rừng; tổ chức nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ trong phòng cháy, chữa cháy rừng; tổ chức kiểm tra, xử lý vi phạm, tổ chức thống kê các số liệu về phòng cháy, chữa cháy rừng; tuyên truyền, giáo dục pháp luật và kiến thức về phòng cháy, chữa cháy rừng tới các đối tượng là chủ rừng và người dân trên địa bàn thành phố.
Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và phát triển rừng; khắc phục tồn tại trong công tác phòng cháy chữa cháy rừng, việc xây dựng phương án phòng cháy chữa cháy rừng giai đoạn 2018-2020 là cần thiết; làm căn cứ để tổ chức thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng; chủ động nghiên cứu và áp dụng các tình huống giả định khi có cháy rừng xảy ra phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế-xã hội của từng địa phương, góp phần bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng; chủ động phòng ngừa và thống nhất về chỉ huy, huy động lực lượng, phương tiện, hậu cần tham gia PCCCR một cách đồng bộ, kịp thời, nhanh chóng và có hiệu quả; quy định rõ trách nhiệm cho các thành viên Ban chỉ đạo của tỉnh và các chủ rừng trên địa bàn với nguyên tắc: "Phòng là chính, chữa cháy phải kịp thời, triệt để"; đảm bảo phương châm 4 tại chỗ "Lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, chỉ huy tại chỗ và hậu cần tại chỗ". Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Phương án phòng cháy, chữa cháy rừng giai đoạn 2018-2020 trên địa bàn thành phố.
I. CƠ SỞ PHÁP LÝ Phần I.
CƠ SỞ PHÁP LÝ, THỰC TIỄN VÀ
PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG PHƯƠNG ÁN
Luật Bảo vệ và Phát triển rừng ngày 03/12/2004;
Luật Phòng cháy và Chữa cháy ngày 29/6/2001; Luật Sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Phòng cháy và Chữa cháy ngày 22/11/2013;
Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 03/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật Bảo vệ và Phát triển rừng; Nghị định số 09/2006/NĐ-CP ngày 16/01/2006 của Chính phủ quy định về phòng cháy chữa cháy rừng; Nghị định số 79/2014/NĐ-CP ngày 26/11/2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành Luật Phòng cháy và Chữa cháy ngày 22/11/2013;
Chỉ thị số 04/CT-TTg ngày 05/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng;
Quyết định số 197/2005/QĐ-BNN-KL ngày 27/01/2005 của Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc ban hành hướng dẫn xây dựng phương án phòng cháy, chữa cháy rừng cấp tỉnh;
Thông tư liên tịch số 62/2005/TTLT-BTC-BNN&PTNT ngày 04/8/2005 của Liên Bộ: Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn việc lập dự toán, quản lý và sử dụng kinh phí công tác phòng cháy chữa cháy rừng; Thông tư liên tịch số 20/2013/TTLT-BNNPTNT-BTC ngày 27/3/2013 của Liên Bộ: Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn sửa đổi, bổ sung một số điều tại Thông tư liên tịch số 61/2007/TTLT-BNN-BTC ngày 22/6/2007 của Liên Bộ: Tài chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn chế độ quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước cấp cho hoạt động cơ quan Kiểm lâm các cấp; thanh toán chi phí cho các tổ chức, cá nhân được huy động để ngăn chặn tình trạng chặt phá rừng trái pháp luật và phòng cháy chữa cháy rừng;
Quyết định số 61/2016/QĐ-UBND ngày 12/01/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố ban hành Quy chế phối hợp trong công tác PCCCR trên địa bàn thành phố Hải Phòng;
Nghị quyết số 150/2016/NQ-HĐND ngày 13/12/2016 của Hội đồng nhân dân thành phố; Quyết định số 454/QĐ-UBND ngày 02/3/2016 của Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng về việc phê duyệt kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng thành phố Hải Phòng giai đoạn 2017-2020;
Chỉ thị số 29/CT-UBND ngày 28/9/2017 của Uỷ ban nhân dân thành phố về tăng cường các biện pháp quản lý, bảo vệ, phát triển rừng và quản lý lâm sản trên địa bàn thành phố.
II. CƠ SỞ THỰC TIỄN
Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký./.
Nơi nhận:
- TTTU, TT HĐND TP;
- CT, các PCT UBND TP;
- Như Điều 3;
- CVP, các PCVP;
- CV: NN;
- Lưu: VT.
|
TM. ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ
KT. CHỦ TỊCH
PHÓ CHỦ TỊCH
hạm Văn Hà
|
1. Vị trí địa lý
Hải Phòng là thành phố ven biển, phía Đông miền Duyên hải Bắc Bộ, có toạ độ địa lý từ 20°30' đến 21°01' vĩ độ Bắc, 106°25' đến 107°10' kinh độ Đông, có diện tích tự nhiên là 156.175 ha (số thống kê năm 2016) chiếm 0,45% diện tích tự nhiên cả nước. Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông là biển Đông.
2. Đặc điểm tài nguyên rừng
Hải Phòng có diện tích rừng và đất lâm nghiệp theo quy hoạch phát triển lâm nghiệp là: 28.784,62 ha. Rừng ngoài quy hoạch đất lâm nghiệp là 407,69 ha. Độ che phủ của rừng đạt 8,5%, trong đó: Diện tích quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng: 24.238,1 ha. Rừng tự nhiên: 8.964,2 ha (đặc dụng 5.779,5ha, phòng hộ
3.184,7 ha); Rừng trồng: 3.721,4 ha (đặc dụng 204,7 ha, phòng hộ 3.516,6 ha); Đất chưa có rừng: 11.552,5 ha (đất rừng đặc dụng 3.947,3 ha; đất rừng phòng hộ
7.605,2 ha). Trong đó đất có rừng trồng chưa thành rừng là 684,2 ha, đất trống có cây gỗ tái sinh là 4.246,9 ha, đất trống không có cây gỗ tái sinh là 4.058,9 ha, núi đá: 2.562,5 ha. Đất khác trong ranh giới quy hoạch lâm nghiệp là 4.546,5 ha. Trong đó đất có cây nông nghiệp là 198,7 ha, đất khác là 4.347,8 ha (trong đó núi đá không cây là 394,8 ha). Diện tích rừng ngoài quy hoạch lâm nghiệp là 402,2 ha (Rừng tự nhiên 42,4 ha, rừng trồng 357,8 ha).
3. Khí hậu thủy văn
- Lượng mưa: Tổng lượng mưa bình quân nhiều năm của Hải Phòng khoảng 1.600mm. Mưa tập trung từ tháng 6 đến tháng 9, lớn nhất có thể lên tới 100 mm/ngày.
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm vào khoảng 23°C.
- Chế độ ẩm: Độ ẩm trung bình nhiều năm biến động từ 82-85% và tổng bức xạ trên 100 kcal/1cm2/năm, cao nhất có thể lên tới 150 kcal/1cm2/năm.
- Chế độ gió: Khí hậu Hải Phòng mang tính chất nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa khí hậu vùng đồng bằng ven biển với khí hậu vùng đồi núi Đông Bắc. Mùa hè từ tháng 4 đến tháng 10 nóng ẩm, mưa nhiều, hướng gió thịnh hành là Đông Nam và Nam.
- Đặc điểm thủy văn: Hải Phòng có mạng lưới sông ngòi dày đặc, mật độ trung bình từ 0,6 - 0,8 km/km?, là vùng có mật độ sông lớn nhất trong vùng đồng bằng Bắc Bộ, hướng chảy của các con sông chủ yếu là Tây Bắc - Đông Nam, có các sông chính gồm: Bạch Đằng: dài 42 km, Cấm dài 37 km, Lạch Tray dài 43 km,
Văn Úc: dài 41 km. Ngoài các con sông chính, còn nhiều sông nhánh và hệ thống kênh rạch tự nhiên, nhân tạo. Chế độ thuỷ văn vùng biển Hải Phòng có chế độ nhật triều thuần nhất điển hình là thuỷ triều theo chế độ nhật triều: độ cao 3,7 - 3,9m cao nhất là +4,44m chu kỳ triều ổn định kéo dài 24 giờ.
4. Những ảnh hưởng bất lợi đến công tác phòng cháy, chữa cháy rừng
- Mật độ dân số tập trung tại các khu công nghiệp tăng mạnh, kéo theo nhu cầu vui chơi giải trí, du lịch, sử dụng các dịch vụ rừng cũng tăng theo. Số lượng, số lượt người dân tham gia vào các hoạt động gắn liền với rừng càng làm tăng nguy cơ xảy ra cháy rừng do ý thức sử dụng lửa của người dân còn hạn chế.
- Diện tích giao rừng và đất lâm nghiệp còn nhỏ, lẻ và manh mún, công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và Khế ước giao đất có rừng cho các cá nhân, nhóm hộ chưa thống nhất, gây khó khăn cho việc quản lý bảo vệ rừng.
- Do phong tục và tập quán lâu đời của người dân có cuộc sống gần rừng nên các khu nghĩa trang, các ngôi mộ được người dân xây dựng, di chuyển vào diện tích các khu rừng phòng hộ đồi núi vẫn diễn ra, khó kiểm soát. Phong tục đốt vàng mã tại các khu nghĩa trang, mộ chí tại các khu rừng phòng hộ là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến hiện tượng cháy rừng.
- Việc đầu tư kinh phí cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng đã được thành phố và các địa phương có rừng quan tâm, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu, trang thiết bị bảo hộ cho các lực lượng tham gia chữa cháy rừng còn thiếu, phương tiện chữa cháy rừng chuyên dụng không có, một số trang thiết bị, phương tiện, dụng cụ đã xuống cấp như: xe ôtô, bình CO2, loa cầm tay, biển cấp dự báo cháy rừng, biển tuyên truyền...việc tổ chức chữa cháy rừng trên thực địa chủ yếu bằng phương pháp thủ công (dùng cành lá, dao phát...) dập lửa, do đó hiệu quả chữa cháy rừng thấp.
- Do điều kiện địa hình phức tạp, nguồn nước rất xa khu vực chữa cháy, khả năng tiếp cận đám cháy bằng cơ giới rất khó khăn, việc tổ chức chữa cháy rừng trên thực địa chủ yếu phải áp dụng phương pháp thủ công như dùng cành lá và cây bụi dập lửa, dùng dao phát rừng tạo băng trắng cản lửa, do đó hiệu quả chữa cháy rừng thấp. Trong một số vụ cháy rừng do địa hình phức tạp, không có nguồn nước nên sau khi tiến hành dập lửa (biện pháp dập khô) thì lửa lại bùng phát trở lại và gây ra thiệt hại lớn
- Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân về công tác bảo vệ và phát triển rừng chưa sâu rộng, thường xuyên liên tục. Ý thức, trách nhiệm của chủ rừng chưa cao, công tác tuần tra, kiểm soát của chính quyền địa phương và chủ rừng chưa được thường xuyên, còn lúng túng trong tổ chức và điều hành chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra.
- Các biện pháp lâm sinh trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng chưa được các chủ rừng, chính quyền các xã, phường có rừng quan tâm.
- Việc điều tra, xác minh để làm rõ nguyên nhân và các đối tượng cố ý hoặc vô ý gây cháy rừng để từ đó có những biện pháp xử lý mang tính răn đe, giáo dục chưa được các cấp chính quyền địa phương nơi thường xuyên xảy ra cháy rừng quan tâm.
5. Thực trạng công tác phòng cháy, chữa cháy rừng
Thời gian qua, nhiều địa phương và các chủ rừng đã có ý thức về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng nhưng chưa xây dựng được phương án phòng cháy, chữa cháy rừng, phù hợp với điều kiện địa phương; việc xử lý tình huống còn chậm và lúng túng, chưa đưa ra được giải pháp khắc phục hậu quả sau cháy rừng, hiện tượng cháy rừng có chiều hướng gia tăng về số lượng và tần suất các vụ cháy. Đặc biệt những tháng cuối năm 2016, đầu năm 2017 tại địa bàn huyện Thủy Nguyên đã liên tiếp xảy ra các vụ cháy rừng tập trung chủ yếu vào khu rừng phòng hộ tại các xã: Thủy Sơn, Thủy Đường, Đông Sơn, Hòa Bình. Phần lớn các vụ cháy đều xảy ra vào thời điểm từ 13h - 17h30 cộng thêm địa hình các khu rừng có địa hình phức tạp (độ dốc ngang sườn núi lớn, không có đường dân sinh) nên công tác chữa cháy rừng bằng các biện pháp hiện đại như: dùng xe chữa cháy chuyên dụng không thực hiện được, công tác vận động để đưa phương tiện, dụng cụ, trang thiết bị chữa cháy tiếp cận điểm cháy gặp rất nhiều khó khăn. Khoảng thời gian hanh khô kéo dài, ý thức về phòng cháy, chữa cháy rừng chưa đồng đều trong cộng đồng dân cư sống ven rừng, điều kiện kinh tế xã hội các địa phương có rừng còn nhiều khó khăn.
5.1. Công tác dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng
Chi cục Kiểm lâm có nhiệm vụ:
Xây dựng, duy trì mạng lưới thông tin về dự báo cháy rừng: mạng lưới quần chúng nhân dân, truy cập sử dụng phần mềm cảnh báo cháy rừng của Cục Kiểm lâm tại địa chỉ http://www.kiemlam.org.vn kết hợp vơi đài phát thanh, truyền hình thành phố phát tin cảnh báo về nguy cơ cháy rừng để các chủ rừng và nhân dân chủ động trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng.
5.2. Tổ chức lực lượng, phương tiện, dụng cụ PCCCR
Thành phố thành lập và kiện toàn Ban Chỉ đạo Kế hoạch Bảo vệ và Phát triển rừng cấp thành phố theo Quyết định số 199/QĐ-UBND ngày 14/01/2014.
Chi cục Kiểm lâm kiện toàn Ban chỉ đạo Phòng cháy, chữa cháy rừng Chi cục Kiểm lâm tại Quyết định số 10/QĐ-CCKL ngày 15/4/2016, trong đó nòng cốt là Đội Kiểm lâm Cơ động và phòng cháy, chữa cháy rừng.
Tại các địa phương thành lập và kiện toàn các Ban Chỉ đạo Phòng cháy, chữa cháy rừng do Phó Chủ tịch UBND quận, huyện làm Trưởng ban, Trưởng các Phòng, ban có liên quan là thành viên gồm: Tài chính, Kinh tế hạ tầng, Nông nghiệp, Trưởng Phòng Cảnh sát PCCC quận, huyện, Trưởng Công an quận huyện, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự.
Khi xảy ra các vụ cháy rừng, tùy theo mức độ cháy Ban Chỉ đạo huy động các lực lượng tham gia chữa cháy gồm: các chủ rừng và nhân dân quanh khu vực cháy, lực lượng dân phòng cấp xã, Hạt Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát PCCC, Công an, Ban Chỉ huy quân sự quận, huyện và các đơn vị bộ đội đóng quân trên địa bàn.
Biểu 1. Thống kê công trình, dụng cụ, trang thiết bị phòng cháy, chữa cháy rừng của lực lượng Kiểm lâm
(Chi cục Kiểm lâm và Vườn Quốc gia Cát Bà)
|
TT
|
Chủng loại
|
Đơn vị
|
Số lượng
|
Tình trạng hoạt động
|
|
1
|
Cào dập lửa
|
Cái
|
100
|
Tốt
|
|
2
|
Loa cầm tay
|
Cái
|
06
|
Tốt
|
|
3
|
Máy GPS
|
Cái
|
04
|
Tốt
|
|
4
|
Biển báo tuyên truyền
|
Cái
|
128
|
Xuống cấp
|
|
5
|
Xe Ôtô
|
Chiếc
|
2
|
Kém
|
|
6
|
Dao phát rừng
|
Cái
|
2.129
|
Tốt
|
|
7
|
Bàn dập lửa
|
Cái
|
344
|
Tốt
|
|
8
|
Bể chứa nước PCCCR
|
Cái
|
7
|
Xuống cấp
|
|
9
|
Bình CO2
|
Cái
|
136
|
Kém
|
|
10
|
Bộ đàm cầm tay
|
Bộ
|
5
|
Tốt
|
|
11
|
Máy thổi gió
|
Cái
|
11
|
Tốt
|
|
12
|
Cưa xăng
|
Cái
|
3
|
Tốt
|
|
13
|
Câu liêm
|
Cái
|
122
|
Kém
|
|
14
|
Chòi canh lửa
|
Cái
|
1
|
Tốt
|
|
15
|
Xuồng cao tốc
|
Chiếc
|
8
|
Kém
|
|
16
|
Máy bơm nước
|
Chiếc
|
1
|
Tốt
|
|
17
|
Hồ chứa nước
|
Cái
|
1
|
Tốt
|
|
18
|
Đường băng xanh cản lửa
|
Km
|
6,3
|
Tốt
|
|
18
|
Đường băng trắng cản lửa
|
Km
|
12,5
|
Tốt
|
Biểu 2. Thống kê quân số của lực lượng chuyên ngành (Chi cục Kiểm lâm và Vườn Quốc gia Cát Bà)
|
TT
|
Đơn vị
|
Số lượng người
|
|
1
|
Lãnh đạo Chi cục
|
3
|
|
2
|
Đội Kiểm lâm cơ động và phòng cháy chữa cháy rừng
|
3
|
|
3
|
Phòng Thanh tra pháp chế
|
2
|
|
4
|
Phòng Quản lý bảo vệ và bảo tồn thiên nhiên
|
2
|
|
5
|
Phòng Hành chính tổng hợp
|
3
|
|
6
|
Hạt Kiểm lâm huyện Thủy Nguyên
|
3
|
|
7
|
Hạt Kiểm lâm huyện Cát Hải, Bạch Long Vĩ
|
3
|
|
8
|
Hạt Kiểm lâm khu vực Đồ Sơn, Kiến Thụy
|
3
|
|
9
|
Hạt Kiểm lâm khu vực Kiến An, An Lão, Tiên Lãng và Vĩnh Bảo
|
4
|
|
10
|
Vườn Quốc gia Cát Bà
|
102
|
|
Tổng
|
128
|
Biểu 3. Thống kê số lượng quân số và trang thiết bị chữa cháy của lực lượng
Cảnh sát PCCC thành phố tại các địa phương có rừng
|
TT
|
Đơn vị
|
Số lượng người
|
Số phương tiện (xe chữa cháy)
|
|
1
|
Phòng Cảnh sát PCCC số 6 huyện Thủy Nguyên
|
60
|
3
|
|
2
|
Phòng Cảnh sát PCCC số 5 quận Đồ Sơn
|
33
|
2.
|
|
3
|
Phòng Cảnh sát PCCC số 8 huyện Cát Hải, Bạch Long Vĩ
|
50
|
2
|
|
4
|
Phòng Cảnh sát PCCC số 7 huyện An Lão
|
52
|
3
|
|
5
|
Phòng Cảnh sát PCCC số 4 quận Kiến An
|
57
|
3
|
5.3. Tình hình cháy rừng trong 03 năm qua.
Các vùng trọng điểm cháy thường tập trung vào 05 địa bàn của các huyện, quận: Cát Hải, Thủy Nguyên, An Lão, Đồ Sơn, Kiến An. Thời điểm cháy vào mùa khô, từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau. Thời gian và thời điểm dễ xảy ra cháy rừng vào khoảng từ 10h - 13h, từ 17h -20h trong ngày. Các khu rừng thường xảy ra cháy: Rừng phòng hộ thuộc các xã: Thủy Đường, Thủy Sơn, Hòa Bình, Đông Sơn huyện Thủy Nguyên; đồi Thiên Văn, núi Cột Cờ, quận Kiến An; đồi 86, đồi Vạn Hương, quận Đồ Sơn.
- Nguyên nhân cháy: Chủ yếu là do yếu tố con người như: đốt vàng mã tại các khu mộ, nghĩa trang, đốt xử lý thực bì, đốt rác không có khả năng kiểm soát lửa dẫn đến cháy rừng, mâu thuẫn giữa các chủ rừng, các cá nhân và tổ chức có liên quan đến lợi ích từ rừng và đất lâm nghiệp.
- Tổ chức chữa cháy: Thực hiện theo phương châm 4 tại chỗ. Đa số các vụ cháy rừng đều được phát hiện và huy động nhân lực, dụng cụ chữa cháy kịp thời. Một số vụ cháy rừng do địa hình hiểm trở, phức tạp, không có nguồn nước, việc chữa cháy gặp nhiều khó khăn, đám cháy lan rộng, gây thiệt hại lớn về diện tích rừng. Chữa cháy chủ yếu bằng hình thức thủ công, dùng cành cây trong rừng và các dụng cụ thô sơ như dao, bàn dập, bình xịt để chữa cháy rừng. Một số vụ cháy lớn ngoài sử dụng dụng cụ thủ công có kết hợp chữa cháy bằng cơ giới. Lực lượng chữa cháy chủ yếu huy động tại chỗ, bao gồm: Kiểm lâm, chủ rừng, các lực lượng vũ trang và nhân dân địa phương tham gia chữa cháy rừng.
5.4. Những tồn tại và nguyên nhân
Từ thực trạng của công tác phòng cháy, chữa cháy rừng cho thấy: Việc đầu tư kinh phí cho công tác phòng cháy chữa cháy rừng đã được thành phố và các địa phương có rừng quan tâm, nhưng chưa đáp ứng được yêu cầu, trang thiết bị bảo hộ cho các lực lượng tham gia chữa cháy rừng còn thiếu, phương tiện chữa cháy rừng chuyên dụng hạn chế, một số trang thiết bị, phương tiện, dụng cụ đã xuống cấp như: xe ôtô, bình CO2, loa cầm tay, biển cấp dự báo cháy rừng, biển tuyên truyền...việc tổ chức chữa cháy rừng trên thực địa chủ yếu bằng phương pháp thủ công (dùng cành lá, dao phát...) dập lửa, do đó hiệu quả chữa cháy rừng thấp. Do điều kiện địa hình phức tạp, nguồn nước rất xa khu vực chữa cháy, khả năng tiếp cận đám cháy bằng cơ giới rất khó khăn, việc tổ chức chữa cháy rừng trên thực địa chủ yếu phải áp dụng phương pháp thủ công như dùng cành lá và cây bụi dập lửa, dùng dao phát rừng tạo băng trắng cản lửa, do đó hiệu quả chữa cháy rừng thấp. Trong một số vụ cháy rừng do địa hình phức tạp, không có nguồn nước nên sau khi tiến hành dập lửa (biện pháp dập khô) thì lửa lại bùng phát trở lại và gây ra thiệt hại lớn
Công tác tuyên truyền vận động về công tác bảo vệ và phát triển rừng chưa sâu rộng, thường xuyên liên tục. Ý thức, trách nhiệm của chủ rừng chưa cao, công tác tuần tra, kiểm soát của chính quyền địa phương và chủ rừng chưa được thường xuyên, còn lúng túng trong tổ chức và điều hành chữa cháy khi có cháy rừng xảy ra. Công tác tổ chức diễn tập, thực tập phương án phòng cháy, chữa cháy rừng còn hạn chế, chưa kịp thời rút kinh nghiệm và điều chỉnh, bổ sung phương án phòng cháy, chữa cháy rừng cho phù hợp với tình hình thực tế. Các biện pháp lâm sinh trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng chưa được các chủ rừng, chính quyền các xã, phường có rừng quan tâm. Việc điều tra, xác minh để làm rõ nguyên nhân và các đối tượng cố ý hoặc vô ý gây cháy rừng để từ đó có những biện pháp xử lý mang tính răn đe, giáo dục chưa được các cấp chính quyền địa phương nơi thường xuyên xảy ra cháy rừng quan tâm.
6. Phương pháp xây dựng phương án
6.1. Tổ chức thu thập thông tin liên quan:
- Các chỉ số diễn biến rừng và đất lâm nghiệp trên địa bàn thành phố được căn cứ vào Kết quả kiểm kê rừng năm 2016 (bản đồ, các phụ biểu tổng hợp).
-Tổng hợp số liệu các chủ rừng đã được giao nhận rừng và đất lâm nghiệp tại thời điểm 2002 đến nay.
- Thu thập và căn cứ vào các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến rừng và đất lâm nghiệp.
6.2. Phân tích và tổng hợp thông tin:
- Có sự tham gia ý kiến của Cảnh sát phòng cháy chữa cháy, Công an thành phố, các Sở, ban, ngành liên quan.
-Tổng hợp và phân tích kết quả sau đợt kiểm tra trách nhiệm của các chủ rừng, Uỷ ban nhân dân các xã, phường, thị trấn có rừng trong công tác phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn thành phố trong năm 2016 và những tháng đầu năm 2017.
Phần II
NỘI DUNG PHƯƠNG ÁN
II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ
1. Mục tiêu chung
Nâng cao ý thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, các đơn vị, địa phương, tổ chức và cá nhân trong công tác phòng cháy, chữa cháy và bảo vệ rừng, kiểm soát có hiệu quả các nguy cơ xảy ra cháy rừng, giảm thiểu số vụ cháy và thiệt hại do cháy rừng gây ra trên địa bàn thành phố.
2. Mục tiêu cụ thể
- Tăng cường công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng của chủ rừng, cấp ủy, chính quyền, đoàn thể tại các địa phương có rừng.
- Xây dựng các tổ đội xung kích trong công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy chữa cháy rừng, xác định các vùng trọng điểm cháy, đầu tư các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng tại các vùng trọng điểm, đầu tư phương tiện, trang thiết bị, phục vụ cho phòng cháy, chữa cháy rừng phù hợp với tình hình thực tế mỗi địa phương.
- Ứng dụng khoa học kỹ thuật trong công tác dự báo cháy rừng, phát hiện điểm cháy sớm thuộc vùng trọng điểm cháy trên địa bàn thành phố một cách có hiệu quả.
- Đảm bảo việc huy động lực lượng, phương tiện, chữa cháy kịp thời, khi có cháy rừng, không để cháy lớn gây thiệt hại về người, tài sản của nhà nước và nhân dân.
- Từng bước xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng, đấu tranh ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm luật Bảo Vệ và phát triển Rừng.
3. Nhiệm vụ trọng tâm
- Xác định các tình huống cháy rừng và phân cấp điều hành chữa cháy, đảm bảo thực hiện tốt công tác PCCCR cho các vùng rừng trọng điểm.
- Đảm bảo cho việc huy động lực lượng, phương tiện, cứu chữa kịp thời khi xảy ra cháy rừng, không để cháy lớn gây thiệt hại về người, tài sản của nhà nước và của nhân dân.
- Xây dựng lực lượng, đầu tư các công trình, phương tiện, thiết bị, công cụ phục vụ cho các hoạt động PCCCR.
- Thực hiện xã hội hóa công tác bảo vệ rừng, PCCCR; phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm quy định về PCCCR.
II. NỘI DUNG THỰC HIỆN
1. Kiện toàn Ban Chỉ đạo các cấp
Hàng năm thực hiện củng cố và kiện toàn Ban Chỉ đạo về Kế hoạch bảo vệ và Phát triển rừng các cấp, để chỉ đạo thực hiện công tác PCCCR, cụ thể:
- Cấp thành phố: Kiện toàn Ban chỉ đạo Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng (BCĐBV&PTR) của thành phố giai đoạn 2017 - 2020 do Phó Chủ tịch UBND thành phố phụ trách khối nông nghiệp làm Trưởng ban, các thành viên là đại diện lãnh đạo các Sở, ban, ngành: Quân đội, Công an, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Kiểm lâm, Kế hoạch, Tài chính, Y tế...
- Cấp quận, huyện: Củng cố, kiện toàn 06 BCĐ cấp quận, huyện và 01 Ban Chỉ huy bảo vệ rừng của Vườn Quốc gia Cát Bà.
- Cấp xã: Củng cố và kiện toàn 40 Ban Chỉ huy bảo vệ rừng cấp xã, phường, thị trấn.
- Cấp thôn: Xây dựng và củng cố 200 tổ đội xung kích bảo vệ rừng - PCCCR tại chỗ.
Xây dựng và ban hành quy chế hoạt động gắn với phân công cụ thể trách nhiệm của từng thành viên Ban Chỉ đạo các cấp. Tăng cường trách nhiệm và khả năng, năng lực chỉ đạo, chỉ huy chữa cháy rừng; theo dõi, chỉ đạo, điều hành công tác PCCCR của Ban Chỉ đạo các cấp.
2. Tổ chức xây dựng lực lượng PCCCR các cấp
2.1. Cấp thành phố
- Xây dựng lực lượng sẵn sàng cơ động tham gia chữa cháy rừng, cứu hộ, cứu nạn trong trường hợp xảy ra cháy lớn gồm: Bộ Chỉ huy quân sự thành phố, Bộ
Chỉ huy bộ đội biên phòng Hải Phòng, Cảnh sát PCCC thành phố, Đội Kiểm lâm cơ động và PCCCR của Chi cục Kiểm lâm, lực lượng y tế, lực lượng bảo vệ rừng của các Ban Quản lý rừng và các chủ rừng.
- Đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy và đầu tư trang thiết bị chữa cháy rừng phục vụ công tác PCCCR; xây dựng phương án tác chiến chữa cháy rừng cấp thành phố sát với điều kiện thực tế và yêu cầu nhiệm vụ trong từng giai đoạn.
- Chi cục Kiểm lâm thực hiện nhiệm vụ thường trực cho Ban Chỉ đạo thành phố và bố trí lực lượng trực PCCCR từ tháng 6 đến tháng 12 để tiếp nhận và xử lý thông tin cháy rừng hàng ngày.
2.2. Cấp quận, huyện liên quan
- Xây dựng lực lượng nòng cốt PCCCR gồm: Ban Chỉ huy quân sự quận, huyện, Công an quận, huyện, Kiểm lâm huyện, Bệnh viện đa khoa quận, huyện; chủ động phối hợp, hiệp đồng với lực lượng khác trên địa bàn tổ chức chữa cháy, cứu hộ, cứu nạn do cháy rừng gây ra.
- Đào tạo, huấn luyện nghiệp vụ PCCCR; đầu tư trang thiết bị PCCCR phù hợp với tình hình thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ; xây dựng phương án tác chiến chữa cháy rừng, quy chế hoạt động sát với tình hình thực tế của cấp quận, huyện.
- Các Hạt Kiểm lâm thực hiện nhiệm vụ thường trực cho Bna Chỉ huy Bảo vệ rừng quận, huyện và bố trí lực lượng trực PCCCR từ tháng 6 đến tháng 12 để tiếp nhận và xử lý thông tin cháy rừng hàng ngày.
2.3. Cấp xã, phường
- Xây dựng lực lượng xung kích làm nòng cốt đủ mạnh khống chế, dập tắt kịp thời khi xuất hiện cháy rừng gồm: Kiểm lâm phụ trách địa bàn; công an xã, phường; xã đội; lực lượng dân quân tự vệ; Đoàn thanh niên; Hội Nông dân.
- Huấn luyện nghiệp vụ PCCCR và đầu tư trang thiết bị PCCCR phù hợp với tình hình thực tiễn, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; xây dựng phương án tác chiến chữa cháy rừng, quy chế hoạt động sát với tình hình thực tế của cấp xã, phường.
- Kiểm lâm phụ trách địa bàn tham mưu cho UBND xã, phường tổ chức trực PCCCR để tiếp nhận và xử lý thông tin cháy rừng hàng ngày.
2.4. Đối với thôn, cụm dân cư
- Xây dựng tổ đội quần chúng bảo vệ rừng và PCCCR, gồm lực lượng: các chủ rừng, hộ gia đình theo đơn vị thôn, cụm dân cư, do trưởng thôn chỉ huy, khi phát hiện xảy ra cháy rừng báo cáo kịp thời với Ban Chỉ đạo cấp trên, chủ động tổ chức chữa cháy và phối hợp hiệu quả với các lực lượng chữa cháy khác khi phạm vi cháy rừng vượt quá khả năng kiểm soát của lực lượng cơ sở.
- Huấn luyện nghiệp vụ PCCCR và đầu tư trang thiết bị PCCCR phù hợp với tình hình thực tiễn yêu cầu nhiệm vụ; xây dựng phương án tác chiến chữa cháy rừng, quy chế, quy ước hoạt động của tổ đội quần chúng bảo vệ rừng PCCCR trên địa bàn thôn, cụm dân cư.
3. Các biện pháp phòng cháy, chữa cháy rừng
3.1. Các biện pháp phòng cháy rừng
3.1.1. Xác định thời gian dễ xảy ra cháy rừng trên địa bàn
- Đặc điểm mùa cháy: Mùa cháy rừng trên địa bàn thành phố Hải Phòng thường xảy ra vào mùa hanh khô từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau.
- Thời gian và thời điểm dễ xảy ra cháy rừng: Các vụ cháy rừng trên địa bàn thành phố đều xảy ra vào khoảng thời gian từ 10h - 13h, từ 17h -20h trong ngày.
3.1.2. Xây dựng bản đồ phân vùng trọng điểm rừng dễ bị cháy trên địa bàn thành phố
Theo số liệu thống kê các năm: 2015, 2016, 2017, tình trạng cháy rừng, và tần suất xuất hiện các vụ cháy phân bố trên thực địa và trạng thái rừng xảy ra cháy chủ yếu là rừng gỗ lớn; điều kiện khí hậu: gió biển; kiểu rừng: phòng hộ đồi núi, chủ yếu là rừng lá kim, rụng lá vào mùa đông; hoạt động kinh tế xã hội: các dự án chuyển đổi mục đích sử dụng rừng, các khu du lịch sinh thái, phong tục tập quán của người dân. Xây dựng Bản đồ phân vùng trọng điểm cháy rừng trên địa bàn thành phố trên cơ sở là nền tảng của kết quả kiểm kê rừng 2016, được xác định tại các khu vực có nguy cơ cháy cao để tập trung các nguồn lực phục vụ cho phòng cháy, chữa cháy rừng: Các vùng trọng điểm cháy thường tập trung vào 5 địa bàn tại các quận huyện: Đồ Sơn, Kiến An, Cát Hải, Thủy Nguyên, An Lão. Tại huyện Thủy Nguyên các điểm thường xuyên xảy ra cháy rừng đó là xã Hòa Bình, xã Đông Sơn, xã Kỳ Sơn, xã Lại Xuân, xã Thủy Sơn, xã Thủy Đường, Thị trấn Núi Đèo. Tại quận Đồ Sơn, các điểm cháy thường xảy ra tại các khu vực của đồi 46, đồi 86, của 02 phường Vạn Hương và phường Vạn Sơn. Tại quận Kiến An, các điểm cháy thường xảy ra tại các khu vực của núi Cột cờ, phường Tràng Minh, núi Thiên Văn, phường Nam Sơn. Tại huyện Cát Hải các điểm cháy thường xảy ra tại các khu vực của các xã: Chân Trâu (Đồi 21 truyền hình), Hiền Hào, Phù Long và thị trấn Cát Bà. Tại huyện An Lão, các điểm cháy thường xảy ra tại các khu vực xã Thái Sơn, xã An Tiến và xã Trường Thành.
3.1.3. Xây dựng và vận hành quy trình dự báo, cảnh báo nguy cơ cháy rừng
- Xây dựng, duy trì mạng lưới thông tin về dự báo cháy rừng: mạng lưới quần chúng nhân dân, truy cập sử dụng phần mềm cảnh báo cháy rừng của Cục Kiểm lâm tại địa chỉ http://www.kiemlam.org.vn.
3.1.4.Tuyên truyền nâng cao nhận thức và kiến thức của cộng đồng về công tác phòng cháy, chữa cháy rừng
- Mở các Hội nghị tuyên truyền phổ biến pháp luật về quản lý, bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng tại các xã, phường có rừng ( rừng phòng hộ đồi núi). Tổ chức các đợt tuyên truyền lưu động bằng ô tô (có phát thanh bằng hệ thống loa đài) tại các địa bàn trọng điểm.
- Xây dựng các bảng nội quy bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng, biển cấm lửa và biển báo hiệu cấp dự báo cháy rừng tại các khu rừng trọng điểm có nguy cơ xảy ra cháy cao.
- Xây dựng chương trình kế hoạch về bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng và thông tin trên các phương tiện truyền thông( hệ thống loa truyền thanh của xã, phường, thị trấn).
- Tổ chức ký cam kết hoặc quy ước bảo vệ và phát triển rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng đối với các chủ rừng đã được giao nhận khoán bảo vệ rừng.
- Tổ chức in ấn, phát hành các tài liệu tuyên truyền phòng cháy, chữa cháy rừng.
3.1.5.Đào tạo, huấn luyện và diễn tập chữa cháy rừng
- Tổ chức các lớp tập huấn về nghiệp vụ quản lý lửa rừng cho các đối tượng là chủ rừng( rừng phòng hộ đồi núi ), tổ đội xung kích.
-Tổ chức các lớp tập huấn về kỹ thuật phòng cháy, chữa cháy rừng cho các đối tượng là chủ rừng ( rừng phòng hộ đồi núi ), tổ xung kích phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Tổ chức các lớp tập huấn về kiến thức phòng cháy, chữa cháy rừng cho cộng đồng, lực lượng tham gia chữa cháy rừng.
- Phối hợp với Cảnh sát PCCC thành phố tổ chức diễn tập các lực lượng tham gia chữa cháy rừng các cấp( cấp thành phố, cấp quận, huyện) theo phương châm 4 tại chỗ (chỉ huy tại chỗ; lực lượng tại chỗ; phương tiện tại chỗ và hậu cần tại chỗ).
3.1.6. Xây dựng và duy trì các công trình phòng cháy, chữa cháy rừng
- Xây dựng đường băng xanh xung quanh các lâm phận rừng trồng, các khu rừng phòng hộ xung yếu, chiều rộng băng căn cứ vào địa hình, độ dốc, hướng gió. Có thể tạo băng rộng từ 10m trở lên, trên băng được phát dọn cỏ, thực bì để trồng những cây bản địa có tính chịu lửa cao, tán rộng, lá dầy chứa nhiều nước, xanh quanh năm.
- Đối với rừng trồng mới phải thiết kế đường băng cản lửa (bề rộng của băng cản lửa là 6-12 m) hoặc phải xây dựng các công trình phòng cháy trước khi tổ chức trồng, tuân thủ các quy định về phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Xây dựng các bể nước, hồ chứa nước chữa cháy tại các khu rừng trọng điểm. Sửa chữa và làm mới các tuyến đường trong rừng phục vụ di chuyển trong công tác chữa cháy tại các khu vực rừng có nguy cơ cháy cao.
- Lập kế hoạch đầu tư phương tiện, máy móc thiết bị và công cụ phòng cháy, chữa cháy rừng phù hợp với điều kiện thực tế: dao quắm, câu liêm, bàn dập lửa, máy cưa xăng, máy thổi gió.
3.1.7. Xây dựng các giải pháp làm giảm nguồn vật liệu cháy
- Tổ chức khảo sát đánh giá và tiến hành thu dọn thực bì, hoặc hạ cấp thực bì trước khi vào mùa hanh khô tại các khu rừng trọng điểm.
- Dọn vệ sinh rừng sau khai thác, tỉa thưa, rải đều cho khô vật liệu, đốt trước phòng cháy và được giám sát chặt chẽ.
3.1.8. Xây dựng và thực hiện quy trình phát hiện điểm cháy rừng
- Xây dựng, duy trì mạng lưới thông tin thông báo cháy rừng từ quần chúng, từ các tổ đội xung kích, chủ rừng.
3.1.9. Nghiên cứu các giải pháp chính sách, kinh tế- xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng
- Tập hợp và đề xuất trồng rừng bằng cây trồng chống chịu lửa,
- Xây dựng các biện pháp tu bổ rừng để phòng cháy, chữa cháy rừng
- Nghiên cứu, đề xuất các quy trình phòng cháy, chữa cháy rừng
- Nghiên cứu đề xuất các chính sách về lợi ích cho những người tham gia công tác phòng cháy, chữa cháy rừng. Đề xuất các giải pháp kinh tế, xã hội cho phòng cháy, chữa cháy rừng
3.2. Các biện pháp chữa cháy rừng
- Chữa cháy trực tiếp: Huy động lực lượng và phương tiện từ thủ công đến cơ giới như: Cuốc, xẻng, cào, câu liêm, bàn dập, cành cây tươi, thùng nước, bình nước đeo vai, máy ủi, máy bơm nước, xe chữa cháy chuyên dụng,... tác động trực tiếp vào đám cháy để nhanh chóng dập tắt đám cháy.
- Chữa cháy gián tiếp: Huy động lực lượng và phương tiện để tạo chướng ngại vật ngăn cản cháy lan như phát đường băng cản lửa, đốt chặn có kiểm soát, làm đai cản lửa bằng cơ giới,....
- Chữa cháy rừng bằng cách phối hợp cả 2 biện pháp chữa cháy trực tiếp và chữa cháy gián tiếp.
Yêu cầu khi chữa cháy rừng:
- Tổ chức theo dõi, cập nhật thông tin, diễn biến tình hình đám cháy rừng báo cáo về Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng các cấp để kịp thời hỗ trợ khi cần thiết.
- Công tác phối hợp, tác chiến giữa các lực lượng tham gia chữa cháy rừng phải nhịp nhàng, thực hiện nghiêm quy trình chữa cháy và phương án tác chiến do người chỉ huy chữa cháy rừng tại thực địa đưa ra. Trong mọi trường hợp, người có chức vụ cao nhất của đơn vị Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy có mặt tại nơi xảy ra cháy là người chỉ huy chữa cháy. Trường hợp tại nơi xảy ra cháy, lực lượng Cảnh sát phòng cháy chữa cháy chưa đến kịp thì người chỉ huy chữa cháy được quy định:
- Cháy rừng nếu chủ rừng là cơ quan, tổ chức thì người đứng đầu cơ quan tổ chức hoặc người được ủy quyền là người chỉ huy chữa cháy, trưởng thôn, xã tại nơi xảy ra cháy có trách nhiệm tham gia chỉ huy chữa cháy; nếu chủ rừng là hộ gia đình hoặc cá nhân thì trưởng thôn, hoặc người được ủy quyền tại nơi xảy ra cháy là người chỉ huy chữa cháy.
- Người đứng đầu đơn vị Kiểm lâm hoặc người được ủy quyền tại nơi xảy ra cháy có trách nhiệm tham gia chỉ huy chữa cháy.
- Người đứng đầu cơ quan, tổ chức, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi là cấp xã) trở lên có mặt tại đám cháy là người chỉ đạo, chỉ huy chữa cháy.
- Tổ chức lực lượng, đội hình chữa cháy phải nhanh gọn, hiệu quả phù hợp với tính chất, quy mô, địa hình đám cháy.
- Triển khai chữa cháy rừng phải khẩn trương, kịp thời, kiên quyết, triệt để và an toàn cho người và phương tiện tham gia chữa cháy.
Cơ chế vận hành phòng cháy, chữa cháy rừng: Báo động cấp I: Khả năng cháy rừng thấp.
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã chỉ đạo Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng và các chủ rừng phối hợp với kiểm lâm triển khai phương án phòng cháy, chữa cháy rừng.
+ Tổ chức kiểm tra, hướng dẫn quy hoạch vùng sản xuất, rừng trồng, tuyên truyền giáo dục về phòng cháy, chữa cháy rừng và phát dọn thực bì đúng kỹ thuật.
Báo động cấp II: Khả năng cháy rừng ở mức trung bình.
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã chỉ đạo Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng, các chủ rừng tăng cường kiểm tra, đôn đốc bố trí người canh phòng, lực lượng sẵn sàng kịp thời dập tắt khi mới xảy ra cháy rừng, hướng dẫn kỹ thuật xử lý thực bì, trồng rừng.
Báo động cấp III: Khả năng cháy lan trên diện rộng.
+ Thời tiết khô hanh kéo dài, dễ xảy ra cháy rừng, chú trọng phòng cháy các loại rừng: thông, bạch đàn, keo...
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện chỉ đạo Ban chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng, Hạt Kiểm lâm đôn đốc việc phòng cháy, chữa cháy rừng của các chủ rừng, cấm đốt thực bì.
+ Các chủ rừng phải thường xuyên kiểm tra lực lượng canh phòng và lực lượng khoán quản bảo vệ rừng, nhất là trồng rừng.
+ Lực lượng canh phòng trực 10/24h trong ngày (từ 10h đến 20h trong ngày).
+ Khi xảy ra cháy rừng, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã được quyền huy động mọi lực lượng, phương tiện trên địa bàn tham gia chữa cháy.
Báo động cấp IV: Nguy cơ cháy rừng lớn.
+ Thời tiết khô hanh, kéo dài có nguy cơ xảy ra cháy rừng lớn, tốc độ lửa lan tràn nhanh.
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận, huyện và Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng trực tiếp chỉ đạo việc phòng cháy, chữa cháy rừng tại địa phương.
+ Các chủ rừng và lực lượng Kiểm lâm thường xuyên kiểm tra nghiêm ngặt trên các vùng trọng điểm dễ cháy.
+ Lực lượng canh phòng phải thường xuyên trên chòi canh và ngoài hiện trường rừng, đảm bảo trực 12/24h (từ 9h đến 21h trong ngày) nhất là các giờ cao điểm. phát hiện kịp thời điểm cháy, báo động và huy động lực lượng, phương tiện dập tắt ngay.
+ Huyện đề nghị thành phố tăng cường lực lượng, phương tiện chữa cháy khi cần thiết.
+ Dự báo viên nắm chắc tình hình khí tượng, thuỷ văn để dự báo và thông báo kịp thời trên mạng vi tính và trên các phương tiện thông tin đại chúng về cấp cháy và tình hình cháy rừng hàng ngày ở địa phương.
Báo động cấp V: Rất nguy hiểm, thời tiết khô, hạn, kiệt kéo dài có khả năng cháy lớn ớ tất cả các loại rừng, tốc độ lửa lan tràn rất nhanh.
+ Chủ tịch Uỷ ban nhân dân thành phố trực tiếp chỉ đạo Chi cục Kiểm lâm, Sở Nông nghiệp Phát triển nông thôn, Ban Chỉ huy phòng cháy, chữa cháy rừng thành phố, quận, huyện, xã, các chủ rừng.
+ Lực lượng Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy phối hợp với lực lượng Kiểm lâm tăng cường kiểm tra nghiêm ngặt trên các vùng trọng điểm cháy, đảm bảo 24/24h trong ngày, tăng cường kiểm tra người và phương tiện vào rừng.
+ Thông báo thường xuyên nội quy dùng lửa trong rừng và ven rừng.
+ Khi xảy ra cháy phải huy động lực lượng, phương tiện dập tắt ngay, tiến hành điều tra xác minh vụ cháy và truy tìm thủ phạm xử lý nghiêm minh.
+ Khi cần thiết đề nghị Trung ương chi viện lực lượng và phương tiện chữa cháy.
Trong mùa cháy rừng dự báo viên phải nắm chắc tình hình thời tiết, khí tượng thuỷ văn để dự báo và thông tin thường xuyên, liên tục hàng ngày trên các phương tiện thông tin đại chúng. Đặc biệt khi dự báo đến cấp IV và cấp V dự báo viên phải dự báo và đảm bảo thông tin thông suốt trong thời kỳ cao điểm dễ cháy rừng và báo cáo kịp thời việc phòng cháy, chữa cháy rừng lên cấp trên. Xác định mùa cháy rừng trên địa bàn thành phố tập trung chủ yếu vào mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau và mùa hè thường xảy ra cháy rừng vào các thời điểm nắng nóng kéo dài từ tháng 6 đến tháng 8, nguy cơ báo động cháy rừng luôn ở cấp III, IV có lúc lên đến cấp V, cấp cực kỳ nguy hiểm. Thời điểm dễ xảy ra cháy rừng nhất trong ngày là khoảng 17 giờ đến 21 giờ. Thời điểm này người dân thường đốt vàng mã sau khi cúng, cố ý gây cháy rừng do mâu thuẫn cá nhân với cá nhân, cá nhân với tổ chức gây cháy rừng.
3.3. Biện pháp khắc phục hậu quả do cháy rừng gây ra
- Tổ chức điều tra, xác minh nguyên nhân gây cháy, mức độ thiệt hại (diện tích, loại rừng, địa điểm...) do cháy rừng gây ra, truy tìm thủ phạm gây cháy rừng để xử lý theo quy định của pháp luật.
- Xây dựng phương án và lập kế hoạch trồng lại rừng, khoanh nuôi xúc tiến tái sinh rừng, bảo vệ rừng, vệ sinh rừng, giám sát phục hồi rừng.
- Tổ chức hỗ trợ vật chất, tinh thần, đề nghị xét công nhận chính sách cho những người bị thương, bị chết trong quá trình chữa cháy rừng theo quy định của pháp luật.
Phần III
GIẢ ĐỊNH TÌNH HUỐNG CHÁY RỪNG VÀ PHƯƠNG ÁN XỬ LÝ
I. ĐẶC ĐIỂM NHẬN DẠNG MỨC ĐỘ CHÁY
1. Nhận dạng đám cháy theo 3 tình huống
- Cháy nhỏ: Trường hợp cháy rừng với quy mô đám cháy không lớn và không có nguy cơ cháy lan sang các khu vực khác, cháy rừng trong điều kiện thời tiết nắng nhỏ, gió nhẹ, địa hình bằng phẳng.
- Cháy vừa, nguy hiểm: Cháy rừng với quy mô đám cháy có khả năng phát triển nhanh, có nguy cơ cháy lan sang các khu vực xung quanh, cháy rừng trong điều kiện thời tiết nắng lớn, gió không mạnh, địa hình phức tạp.
- Cháy lớn, cực kỳ nguy hiểm: Rừng cháy trên diện rộng, lan tràn nhanh, gió to, nắng lớn, địa hình phức tạp ngoài khả năng kiểm soát.
2. Phân cấp chữa cháy rừng theo 3 tình huống
Khi xảy ra cháy rừng thì lực lượng chủ rừng, Ban Chỉ đạo cấp xã, phường phải tổ chức lực lượng kịp thời theo phương châm 4 tại chỗ để dập tắt lửa; khi nhận định có khả năng cháy vừa, cháy lớn thì tùy theo tình huống để báo cáo Ban Chỉ đạo quận, huyện, xin hỗ trợ ứng cứu.
II. PHƯƠNG ÁN HUY ĐỘNG LỰC LƯỢNG VÀ PHƯƠNG TIỆN CHỮA CHÁY RỪNG:
1. Cháy nhỏ (Tình huống 1):
Chủ tịch UBND xã, phường, Ban Chỉ đạo PCCCR cấp xã, phường, thị trấn và chủ rừng căn cứ phương án phòng cháy, chữa cháy đã xây dựng để huy động lực lượng, phương tiện, hậu cần của địa phương, chủ rừng tham gia chữa cháy rừng kịp thời. Chủ tịch UBND xã, phường chủ động chỉ huy chữa cháy rừng. Khi đám cháy vượt quá tầm kiểm soát chữa cháy của Ban chỉ đạo cấp xã, phường thì trưởng ban chỉ đạo cấp xã, phường phải kịp thời báo cáo bằng phương tiện nhanh nhất về Ban chỉ đạo cấp quận, huyện biết để chỉ đạo và ứng cứu chữa cháy kịp thời. Trong khi chờ lực lượng hỗ trợ phải nắm chắc diễn biến đám cháy và tích cực tổ chức chữa cháy.
2. Cháy vừa, nguy hiểm (Tình huống 2):
Ban Chỉ đạo cấp quận, huyện, thị xã, căn cứ phương án phòng cháy, chữa cháy rừng đã xây dựng tổ chức huy động ngay lực lượng hiện có của quận, huyện gồm: Địa phương xảy ra cháy rừng, Kiểm lâm, Công an quận, huyện, Ban Chỉ huy quân sự quận, huyện, các Ban quản lý rừng, các đơn vị quân đội đóng quân trên địa bàn, các cơ quan xí nghiệp, y tế...v.v; phương tiện do các đơn vị tham gia tự bố trí; Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch Chủ tịch UBND quận, huyện chỉ huy dập tắt đám cháy; đồng thời báo ngay cho Ban Chỉ đạo cấp thành phố và các cơ quan có liên quan như: Chi cục Kiểm lâm, Phòng Cảnh sát PCCC để có kế hoạch điều động, huy động lực lượng, phương tiện, tham gia ứng cứu kịp thời (Khi vượt tầm kiểm soát cháy rừng của quận, huyện).
3. Cháy lớn, cực kỳ nguy hiểm (Tình huống 3):
3.1. Khi xảy ra cháy rừng ở vùng núi Sơn Đào, thôn 3, xã Đông Sơn, huyện Thủy Nguyên:
Ngoài lực lượng huy động của huyện, Chủ tịch UBND thành phố ra lệnh huy động tối đa lực lượng, phương tiện của các ngành, các đơn vị trên địa bàn thành phố tham gia chữa cháy rừng:
- Về lực lượng: 200 cán bộ, chiến sỹ của Lữ đoàn 126 Hải quân; và 100 cán bộ, chiến sỹ của Tiểu đoàn 151 Hải quân; 100 cán bộ, chiến sỹ của Tiểu đoàn 158.
- Phương tiện, dụng cụ chữa cháy: 05 xe ô tô chở quân của Lữ đoàn 126 Hải quân; 03 xe ô tô chở quân của Tiểu đoàn 151 Hải quân; 03 xe ô tô chở quân của
Tiểu đoàn 158; 02 xe chữa cháy của Cảnh sát PCCC thành phố; 01 xe 29 chỗ và 02 ô tô con của Ban Chỉ đạo thành phố; 01 xe cứu thương và nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa thành phố, 50 bình cứu hỏa.
- Điểm tập kết lực lượng, phương tiện: Các xe chữa cháy tập kết tại đường quốc lộ giáp với thôn 3; lực lượng Lữ đoàn 126 vận động theo hướng thôn 3 tiếp cận điểm cháy; lực lượng Tiểu đoàn 151 vận động theo hướng ngã 3 Đông Sơn do lực lượng Kiểm lâm Thủy Nguyên dẫn đường; lực lượng Tiểu đoàn 158 vận động theo hướng xã Hòa Bình lên điểm cháy.
- Điểm lấy nước cho xe chữa cháy: Tại ngã 3 Đông Sơn(sông Gía)
- Chỉ huy chữa cháy chung: Phó chủ tịch UBND thành phố - Trưởng Ban Chỉ đạo thành phố; chữa cháy thủ công Phó Chủ tịch UBND huyện - Trưởng Ban Chỉ đạo huyện chỉ huy; chữa cháy bằng xe cứu hỏa do Cảnh sát PCCC chỉ huy.
- Hậu cần: Nước uống, lương thực (nếu chữa cháy trong thời gian dài trên 4 giờ) do Văn phòng Ban Chỉ đạo huyện chịu trách nhiệm chuẩn bị và mang theo; thuốc y tế và xe cứu thương do bệnh viện Đa khoa thành phố chuẩn bị.
3.2. Khi xảy ra cháy rừng ở thôn Núi 2, xã Thủy Đường huyện Thủy Nguyên
Ngoài lực lượng huy động của huyện, Chủ tịch UBND thành phố ra lệnh huy động tối đa lực lượng, phương tiện của các ngành, các đơn vị trên địa bàn thành phố tham gia chữa cháy rừng:
- Về lực lượng: 200 cán bộ, chiến sỹ của Lữ đoàn 126 Hải quân; và 100 cán bộ, chiến sỹ của Tiểu đoàn 151 Hải quân; 100 cán bộ, chiến sỹ của Tiểu đoàn 158.
- Phương tiện, dụng cụ chữa cháy: 05 xe ô tô chở quân của Lữ đoàn 126 Hải quân; 03 xe ô tô chở quân của Tiểu đoàn 151 Hải quân; 03 xe ô tô chở quân của Tiểu đoàn 158; 02 xe chữa cháy của Cảnh sát PCCC thành phố; 01 xe 29 chỗ và 02 ô tô con của Ban Chỉ đạo thành phố; 01 xe cứu thương và nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa thành phố, 50 bình cứu hỏa.
- Điểm tập kết lực lượng, phương tiện: Các xe chữa cháy tập kết tại đường vào thôn núi 2 phía trường đào tạo lái xe; lực lượng Lữ đoàn 126 vận động theo hướng thôn Núi 1 tiếp cận điểm cháy; lực lượng Tiểu đoàn 151 vận động theo hướng đường lên chùa phía Thủy Sơn do lực lượng Kiểm lâm Thủy Nguyên dẫn đường; lực lượng Tiểu đoàn 158 vận động theo hướng thôn Núi 2 lên điểm cháy.
- Điểm lấy nước cho xe chữa cháy: Tại ngã 3 Đông Sơn (sông Giá)
- Chỉ huy chữa cháy chung: Phó chủ tịch UBND thành phố - Trưởng Ban Chỉ đạo thành phố; chữa cháy thủ công do Phó Chủ tịch UBND huyện - Trưởng Ban Chỉ đạo huyện chỉ huy; Chữa cháy bằng xe cứu hỏa do Cảnh sát PCCC chỉ huy.
- Hậu cần: Nước uống, lương thực (nếu chữa cháy trong thời gian dài trên 4 giờ) do Văn phòng Ban Chỉ đạo huyện chịu trách nhiệm chuẩn bị và mang theo; thuốc y tế và xe cứu thương do bệnh viện Đa khoa thành phố chuẩn bị.
3.3. Khi xảy ra cháy rừng ở đồi Thiên Văn, quận Kiến An
Ngoài lực lượng huy động của quận, Chủ tịch UBND thành phố ra lệnh huy động tối đa lực lượng, phương tiện của các ngành, các đơn vị trên địa bàn thành phố tham gia chữa cháy rừng:
- Về lực lượng: 100 cán bộ, chiến sỹ của Lữ đoàn 679 Hải quân; và 100 cán bộ, chiến sỹ của sư đoàn 363; 100 cán bộ, chiến sỹ của Tiểu đoàn bay.
- Phương tiện, dụng cụ chữa cháy: 02 xe ô tô chở quân của Lữ đoàn 679 Hải quân; 02 xe ô tô chở quân của sư đoàn 363; 01 xe ô tô chở quân của Tiểu đoàn bay; 02 xe chữa cháy của Cảnh sát PCCC thành phố; 01 xe 29 chỗ và 02 ô tô con của Ban Chỉ đạo thành phố; 01 xe cứu thương và nhân viên y tế của Bệnh viện Đa khoa thành phố, 50 bình cứu hỏa.
- Điểm tập kết lực lượng, phương tiện: Các xe chữa cháy tập kết tại đường lên núi Thiên Văn, trước ngã 3 chùa; lực lượng Lữ đoàn 679 vận động theo hướng đường trục chính lên đồi tiếp cận điểm cháy; lực lượng sư đoàn 363 vận động theo hướng đường lên đồi theo hướng gần nhất ( tùy theo hướng gió, độ dốc sườn núi) do lực lượng Kiểm lâm Kiến An dẫn đường; lực lượng Tiểu đoàn bay vận động theo hướng đường trục chính tiếp cận lên điểm cháy.
- Điểm lấy nước cho xe chữa cháy: Hồ Hạnh phúc Kiến An, 03 bể chứa nước PCCCR trên núi Thiên Văn.
3.4. Khi xảy ra cháy rừng ở đồi 46, phường Vạn Hương quận Đồ Sơn
Ngoài lực lượng huy động của quận, Chủ tịch UBND thành phố ra lệnh huy động tối đa lực lượng, phương tiện của các ngành, các đơn vị trên địa bàn thành phố tham gia chữa cháy rừng:
- Về lực lượng: 100 cán bộ, chiến sỹ của trung đoàn 50; và 100 cán bộ, chiến sỹ của sư đoàn 363; 50 cán bộ, chiến sỹ của Trạm ra đa 500.
- Phương tiện, dụng cụ chữa cháy: 02 xe ô tô chở quân của trung đoàn đoàn 50; 02 xe ô tô chở quân của sư đoàn 363; 01 xe ô tô chở quân của trạm ra đa 500; 02 xe chữa cháy của Cảnh sát PCCC thành phố; 01 xe 29 chỗ và 02 ô tô con của BCĐ thành phố; 01 xe cứu thương và nhân viên y tế của bệnh viện Đa khoa thành phố, 50 bình cứu hỏa.
- Điểm tập kết lực lượng, phương tiện: Các xe chữa cháy vận động theo đường nhựa, tập kết tại đường lên đồi 46; lực lượng trung đoàn 50 vận động theo hướng đường trục chính lên đồi tiếp cận điểm cháy; lực lượng sư đoàn 363 vận động theo hướng đường lên đồi theo hướng gần nhất ( tùy theo hướng gió, độ dốc sườn núi) do lực lượng Kiểm lâm Đồ Sơn dẫn đường; lực lượng trạm ra đa 500 vận động theo hướng đường trục chính tiếp cận lên điểm cháy.
- Điểm lấy nước cho xe chữa cháy: Giếng nước, họng cấp nước tại Trung tâm cung ứng dịch vụ ngân hàng quận Đồ Sơn.
- Chỉ huy chữa cháy chung: Phó chủ tịch UBND thành phố - Trưởng Ban Chỉ đạo thành phố; Chữa cháy thủ công do Phó Chủ tịch UBND quận - Trưởng Ban Chỉ đạo quận chỉ huy; chữa cháy bằng xe cứu hỏa do Cảnh sát PCCC chỉ huy.
- Hậu cần: Nước uống, lương thực (nếu chữa cháy trong thời gian dài trên 4 giờ) do Văn phòng Ban Chỉ đạo quận chịu trách nhiệm chuẩn bị và mang theo; thuốc y tế và xe cứu thương do Bệnh viện Đa khoa thành phố chuẩn bị.
3.5. Khi xảy ra cháy rừng ở thôn Bến, xã Trân Châu, huyện Cát Hải
Ngoài lực lượng huy động của huyện, Chủ tịch UBND thành phố ra lệnh huy động tối đa lực lượng, phương tiện của các ngành, các đơn vị trên địa bàn thành phố tham gia chữa cháy rừng:
- Về lực lượng: 50 cán bộ, chiến sỹ của Ban chỉ huy quân sự huyện; và 15 cán bộ, chiến sỹ của trạm ra đa vùng 1 hải quân; toàn bộ lực lượng Kiểm lâm của Vườn Quốc gia Cát Bà.
- Phương tiện, dụng cụ chữa cháy: 01 xe ô tô chở quân của trạm ra đa vùng 1 Hải quân; 02 xe ô tô chở quân của Bộ Chỉ huy quận sự huyện; 01 xe ô tô chở lực lượng Kiểm lâm của Vườn Quốc gia Cát Bà; 02 xe chữa cháy của Cảnh sát PCCC thành phố; 01 xe 29 chỗ và 02 ô tô con của Ban Chỉ đạo thành phố; 01 xe cứu thương và nhân viên y tế của Bệnh viện thành phố, 50 bình cứu hỏa.
- Điểm tập kết lực lượng, phương tiện: Các xe chữa cháy tập kết tại khu vực nhà văn hóa thôn Bến, cạnh giếng Thuồng Luồng; các lực lượng vận động theo hướng đường trục chính và đương mòn tiếp cận điểm cháy ( tùy theo hướng gió, độ dốc sườn núi) do lực lượng Kiểm lâm Cát Hải, các chủ rừng, tổ đội xung kích PCCCR dẫn đường.
- Điểm lấy nước cho xe chữa cháy: Giếng Thuồng Luồng xã Trân Châu
- Chỉ huy chữa cháy chung: Phó chủ tịch UBND thành phố - Trưởng Ban Chỉ đạo thành phố; chữa cháy thủ công do Phó Chủ tịch UBND huyện - Trưởng Ban Chỉ đạo huyện chỉ huy; chữa cháy bằng xe cứu hỏa do Cảnh sát PCCC chỉ huy.
- Hậu cần: Nước uống, lương thực (nếu chữa cháy trong thời gian dài trên 4 giờ) do Văn phòng Ban Chỉ đạo huyện chịu trách nhiệm chuẩn bị và mang theo; thuốc y tế và xe cứu thương do bệnh viện Đa khoa thành phố chuẩn bị (do huyện đảo xa, nên bệnh viện đa khoa huyện chuẩn bị).
4. Trường hợp cháy rừng với quy mô đám cháy quá lớn, lan nhanh trên diện rộng, ngoài khả năng chữa cháy của thành phố:
Ban chỉ đạo PCCCR thành phố báo cáo đề nghị Ban chỉ đạo PCCCR Trung ương chi viện, điều động lực lượng, phương tiện tùy theo tình hình, diễn biến cụ thể của đám cháy.
Phần IV
PHÂN CẤP TRÁCH NHIỆM CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH
VÀ CHẾ ĐỘ THÔNG TIN LIÊN LẠC
I. PHÂN CẤP TRÁCH NHIỆM CHỈ ĐẠO ĐIỀU HÀNH
1. Ban Chỉ đạo thành phố:
Phó Chủ tịch UBND thành phố làm Trưởng ban; Phó trưởng ban là Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Thường trực Ban Chỉ đạo là Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm; các thành viên là lãnh đạo các Cơ quan, đơn vị: Công an thành phố, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài chính, Sở Tài nguyên và Môi trường, Bộ Chỉ huy quận sự thành phố, Bộ Chỉ huy bộ đội biên phòng Hải Phòng, lãnh đạo Văn phòng UBND thành phố, lãnh đạo Ủy ban nhân dân các quận, huyện có rừng. Ban Chỉ đạo thành phố có trách nhiệm:
- Tham mưu cho UBND thành phố ban hành một số văn bản về chế độ, chính sách liên quan đến công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các địa phương, các chủ rừng, các tổ chức và cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Điều động lực lượng, phương tiện trên địa bàn toàn thành phố để cứu chữa kịp thời các vụ cháy rừng lớn.
- Chỉ đạo, kiểm tra, truy quét các tổ chức cá nhân phá hoại rừng, ngăn chặn tình hình xâm hại tài nguyên rừng.
- Chỉ đạo các địa phương, đơn vị, chủ rừng tổ chức khắc phục hậu quả do cháy rừng, phá rừng gây ra.
- Xây dựng kế hoạch công tác, dự toán kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo.
2. Ban Chỉ đạo cấp quận, huyện
- Tham mưu cho UBND cấp quận, huyện trong việc thực hiện công tác PCCCR trên địa bàn, chủ trì phối hợp, huy động lực lượng, phương tiện trên địa bàn tham gia chữa cháy rừng.
- Chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc các địa phương, các chủ rừng, các tổ chức và cá nhân thực hiện tốt nhiệm vụ về bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Điều động lực lượng, phương tiện trên địa bàn để cứu chữa kịp thời các vụ cháy rừng.
- Chỉ đạo, kiểm tra, truy quét các tổ chức cá nhân phá hoại rừng, ngăn chặn tình hình xâm hại tài nguyên rừng.
- Chỉ đạo các địa phương, đơn vị, chủ rừng tổ chức khắc phục hậu quả do cháy rừng, phá rừng gây ra.
- Báo cáo tình hình công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn cho Ban Chỉ đạo thành phố.
- Xây dựng kế hoạch công tác, dự toán kinh phí hoạt động của Ban Chỉ đạo.
3. Ban Chỉ đạo cấp xã, phường
- Tham mưu cho UBND cấp quận, huyện trong việc thực hiện công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn
- Điều động lực lượng, phương tiện trên địa bàn để cứu chữa kịp thời các vụ cháy rừng.
- Bố trí lực lượng tuần tra, canh gác phát hiện kịp thời các vụ cháy rừng
- Phối hợp với các cơ quan chức năng truy tìm thủ phạm gây cháy rừng, xác minh nguyên nhân cháy và khắc phục hậu quả sau cháy rừng.
4. Chủ rừng
- Tổ chức lực lượng tuần tra, canh gác phát hiện kịp thời các vụ cháy rừng.
- Bố trí lực lượng, phương tiện sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng.
- Đầu tư kinh phí để mua sắm các trang thiết bị PCCCR và xây dựng, duy tu bảo dưỡng các công trình bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng.
- Huy động lực lượng kịp thời dập tắt đám cháy theo phương châm 4 tại chỗ.
- Phối hợp với các cơ quan chức năng truy tìm thủ phạm gây cháy rừng xác minh nguyên nhân cháy và khắc phục hậu quả sau cháy rừng.
- Trực tiếp chỉ huy chữa cháy rừng trên diện tích rừng của đơn vị quản lý.
- Báo cáo tình hình công tác bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng trên địa bàn quản lý cho Ban Chỉ đạo bảo vệ rừng cấp xã, phường, quận, huyện, thành phố.
5. Lực lượng chuyên trách PCCCR
- Lực lượng bảo vệ rừng của các chủ rừng và lực lượng kiểm lâm của các Hạt, Trạm Kiểm lâm trên địa bàn tham mưu cho chính quyền các cấp thực hiện tốt công tác bảo vẹ rừng và phòng cháy chữa cháy.
- Phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức tốt công tác tuyên truyền vận động nhân dân.
- Thường xuyên tuần tra ở trong rừng, bố trí lực lượng thường trực sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng.
- Tổ chức lực lượng chữa cháy tại chỗ và báo cáo kịp thời cho BCĐ các cấp.
6. Lực lượng quân đội
- Các đơn vị có kế hoạch tác chiến và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng đơn vị để bố trí đủ lực lượng, phương tiện khi được huy động.
- Phối hợp với đơn vị chuyên trách PCCC để huấn luyện, diễn tập các phương án chữa cháy rừng.
- Quán triệt cho cán bộ chiến sỹ nhiệm vụ chữa cháy rừng là một nhiệm vụ chiến đấu trong thời bình.
- Bộ Chỉ huy quân sự thành phố chỉ đạo các Ban Chỉ huy quân sự quận, huyện và lực lượng dân quân tự vệ của các xã, phường, thị trấn triển khai thực hiện Quy chế phối hợp giữa lực lượng Kiểm lâm và lực lượng dân quân tự vệ trong bảo vệ rừng theo Quyết định số 39/2009/QĐ-TTg ngày 09/3/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
7. Lực lượng cảnh sát PCCC
- Bố trí đủ lực lượng, phương tiện để sẵn sàng tham gia chữa cháy rừng.
- Phối hợp với Kiểm lâm tổ chức tập huấn, huấn luyện nghiệp vụ chữa cháy cho lực lượng ở cơ sở.
- Phối hợp với các cơ quan chức năng tiến hành kiểm tra, giám sát việc thực hiện các quy định về an toàn cháy nổ.
- Phối hợp với lực lượng Kiểm lâm kiểm tra các tuyến đường vào rừng và điểm lấy nước phục chữa cháy, các công trình PCCCR.
8. Các lực lượng khác khi huy động tham gia chữa cháy rừng
Các lực lượng tại cấp xã (dân quân tự vệ, tổ đội quần chúng bảo vệ rừng và nhân dân của các thôn ở gần rừng), lực lượng của quận, huyện (các cơ quan ban ngành cấp huyện), lực lượng của chủ rừng; khi được huy động tham gia chữa cháy rừng phải chấp hành lệnh của người chỉ huy, chuẩn bị đầy đủ dụng cụ, phương tiện tham gia chữa cháy, tuân thủ mệnh lệnh của người chỉ huy; lực lượng y tế phải chuẩn bị đầy đủ trang thiết bị, dụng cụ thuốc men để cấp cứu khi có tai nạn xảy ra.
II. QUY ĐỊNH CHẾ ĐỘ THÔNG TIN LIÊN LẠC VÀ KINH PHÍ
1. Chế độ truyền tin theo nguyên tắc
Từ cấp cơ sở (thôn) thông báo cho UBND cấp xã (hoặc cơ quan kiểm lâm gần nhất); UBND cấp xã báo cáo UBND cấp huyện; UBND cấp huyện báo cáo Ban Chỉ đạo thành phố hoặc Văn phòng thường trực Ban Chỉ đạo thành phố (Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm - Ủy viên Thường trực Ban Chỉ đạo).
2. Nội dung thông tin
Thông tin cung cấp phải gắn gọn, rõ ràng, chính xác và đầy đủ các nội dung: Thời gian, địa điểm - vị trí cháy, loại rừng, loài cây, nguyên nhân, đường đi lại, điểm tập kết lực lượng, điểm lấy nước, diễn biến đám cháy, số người lượng người tham gia chữa cháy, nguy cơ lan tràn của đám cháy... và những đề xuất kiến nghị, yêu cầu.
3. Kinh phí thực hiện
- Căn cứ tình hình thực tế của địa phương, hàng năm Chi cục Kiểm lâm xây dựng nguồn kinh phí hoạt động bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng trong nguồn sự nghiệp kinh tế bảo vệ rừng, trình UBND thành phố phê duyệt để đầu tư cho công tác PCCCR.
- Ban Chỉ đạo cấp huyện lập kế hoạch kinh phí hoạt động bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng, trình UBND huyện phê duyệt trong nguồn ngân sách của huyện.
- Các chủ rừng lớn chủ động xây dựng kế hoạch và chủ động bố trí kinh phí đầu tư cho công tác phòng cháy, chữa cháy rừng của đơn vị mình.
- Các xã có rừng lập kế hoạch kinh phí cho hoạt động bảo vệ rừng và phòng chống cháy rừng để sử dụng trong nguồn quỹ bảo vệ và phát triển rừng.
KẾT LUẬN
Phương án PCCCR của thành phố được xây dựng trên cơ sở các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn của các Bộ, ngành Trung ương và cơ sở thực tiễn của công tác PCCCR trên địa bàn thành phố. Phương án đã đánh giá thực trạng của công tác PCCCR trên địa bàn thành phố và xác định được các vùng trọng điểm dễ xảy ra cháy rừng trên địa bàn của các quận, huyện; đưa ra một số nhiệm vụ giải pháp chính trong công tác PCCCR; đưa ra các tình huống và xử lý các tình huống giả định khi xảy ra cháy rừng, có phương án huy động lực lượng, phương tiện và chỉ huy chữa cháy rừng cụ thể cho từng vùng. Triển khai thực hiện tốt Phương án,thành phố sẽ nâng cao được khả năng kiểm soát cháy rừng, chủ động trong phòng cháy và chữa cháy rừng, hạn chế thấp nhất các vụ cháy rừng và mức độ thiệt hại do cháy rừng gây ra./.1